Những tác động quốc tế

Những tác động quốc tế của một cuộc chiến Trung – Mỹ có thể được hình dung như những vòng tròn đồng tâm: dư luận của thế giới nói chung ở ngoài cùng và ít gây ảnh hưởng nhất; ở vòng tròn tiếp theo, các phản ứng của các bên liên quan phi khu vực chính, bao gồm các đồng minh của mỗi bên; ở giữa và quan trọng nhất, các nước Đông Á. Bất chấp lập trường của họ về các nguyên nhân, phẩm chất và bên được ủng hộ trong một cuộc xung đột, các quốc gia, thể chế và doanh nghiệp trên toàn thế giới, vì lo sợ thiệt hại kinh tế, sẽ yêu cầu chấm dứt ngay lập tức chiến sự Trung – Mỹ. Nhưng các quan điểm như vậy không có khả năng gây ảnh hưởng tới bất kỳ bên tham chiến nào.

Có ý nghĩa quan trọng hơn so với dư luận thế giới sẽ là những phản ứng của các cường quốc khác, đặc biệt là Nga, Ấn Độ và các nước châu Âu (thành viên NATO). Ấn Độ và nga, hai láng giềng trên đất liền hùng mạnh nhất của Trung Quốc, tương ứng có khả năng sẽ ủng hộ Mỹ và Trung Quốc. Mặc dù Ấn Độ sẽ muốn kiềm chế không can thiệp quân sự trực tiếp, nước này có thể tăng cường sự sẵn sàng của lực lượng của mình dọc theo biên giới, đặc biệt là nếu nước này cảm thấy những lợi ích sống còn của mình có thể bị ảnh hưởng. Điều này có thể khiến Trung Quốc làm điều tương tự với các lực lượng lục quân PLA (mà trong mọi trường hợp không được sử dụng nhiều để chống lại các lực lượng Mỹ).

Nga là một nhân tố khó đoán hơn. Mặc dù nước này thiếu các khả năng để thực hiện các chiến dịch quân sự có hiệu quả ở Tây Thái Bình Dương, nước này có thể lợi dụng mối bận tâm của Mỹ ở Thái Bình dương để gia tăng các mối đe dọa tới các nước Liên Xô trước đây ở Đông Âu (ví dụ như Ukraine) và vùng Caucasus (ví dụ như Gruzia), và thậm chí cố gắng hăm dọa các nước láng giềng Baltic của nước này bất chấp tư cách thành viên NATO của họ. Một khả năng khác – ít có khả năng hơn nhưng với ý nghĩa rất khác – là Nga có thể nắm bắt cơ hội của một cuộc chiến Trung – Mỹ để củng cố vị thế của nước này ở Trung Á và Siberia gây tổn hại cho Trung Quốc. Đặt địa chính trị sang một bên, Nga sẽ nhiệt tình giúp Trung Quốc bù đắp lại các nguồn cung dầu và khí đốt đã mất, mặc dù không miễn phí. Ngoài ra, vũ khí của Nga có thể bù đắp phần nào cho những thiệt hại quân sự và phí tổn của Trung Quốc (ví dụ như máy bay và hệ thống phòng không), mặc dù sẽ mất thời gian để chúng được đưa vào vận hành, và phần lớn sẽ rất kém so với các lực lượng của Mỹ. Tuy nhiên, nhìn chung, điểm yếu kinh tế, những hạn chế quân sự và những mối nguy hiểm trên và bên trong biên giới của chính Nga giảm bớt tầm quan trọng của sự hỗ trợ của nước này cho Trung Quốc và khả năng hoặc tầm quan trọng của sự can thiệp của nước này.

Giả định rằng các đồng minh châu Âu của Mỹ nhìn nhận nước này là chính đáng, họ có khả năng sẽ hậu thuẫn nước này về chính trị, trong khi thúc giục kết thúc cuộc xung đột vì lo sợ nó leo thang hoặc phá hoại nền kinh tế thế giới. Không tham chiến trực tiếp, bản thân NATO có thể hứa hẹn hỗ trợ cho các nỗ lực của Mỹ nhằm chống chọi với sự gây hấn của Trung Quốc. Một trong số những đóng góp quan trọng nhất của châu Âu sẽ là ngăn chặn trước hoặc phản ứng trước bất kỳ áp lực gia tăng nào của Nga đối với Đông Âu. Trong quá trình diễn ra một cuộc xung đột kéo dài, châu Âu có thể sẵn sàng tham gia một lệnh cấm vận xuất khẩu sang Trung Quốc đối với bất kỳ hàng hóa, công nghệ và dịch vụ nào có thể hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của nước này.

Còn về các “đồng minh” Trung Quốc khác, Triều Tiên thậm chí còn khó dự đoán hơn Nga. Mặc dù Triều Tiên không còn có khả năng quân sự thông thường để xâm chiếm và đánh bại Hàn Quốc, nước này có thể sử dụng tên lửa chống lại Hàn Quốc hoặc Nhật Bản; mặc dù Seoul gần như chắc chắn sẽ không tham gia một cuộc chiến chống Trung Quốc trong bất kỳ trường hợp nào, các lựa chọn của Tokyo sẽ là phức tạp bởi sự hiếu chiến của Triều Tiên.

Một cuộc xung đột giữa Trung Quốc và Mỹ có thể làm rối loạn Trung Đông rộng lớn hơn bằng việc đem lại một cơ hội cho bạo lực gia tăng từ các nhóm cực đoan Hồi giáo và chống Israel (IS, al-Qaeda, Hamas và Hezbollah). Những khó khăn của Trung Đông có thể gia tăng đòi hỏi lên các lực lượng hải quân và không quân Mỹ ở một thời điểm đang cần sự xuất hiện của họ nhiều hơn ở Tây Thái Bình Dương. Ngược lại, một sự chuyển dịch đáng kể của các lực lượng Mỹ từ Bộ Chỉ huy Trung tâm tới Bộ Chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ có thể gia tăng khả năng bất ổn ở Trung Đông. Bạo lực gia tăng, chủ nghĩa cực đoan và bất ổn ở Trung Đông cũng có thể gây tổn hại cho Trung Quốc, khi phần lớn dầu mỏ của nước này đến từ đó (mặc dù dù sao đi nữa phần lớn dầu mỏ sẽ không được vận chuyển qua vùng chiến sự).

Các nước Đông Á sẽ có nhiều điều để mất nhất từ một cuộc chiến Trung – Mỹ: Phần lớn khu vực này có thể trở thành vùng chiến sự; nền kinh tế tập trung vào thương mại của khu vực này có thể rơi vào khủng hoảng; Trung Quốc có thể nổi lên vượt trội hoặc bất ổn; những thành tựu phi thường của khu vực về an ninh và thịnh vượng có thể bị đe dọa. Phần lớn các nước Đông Á sẽ muốn thấy chiến tranh kết thúc nhanh chóng trong chiến thắng về quân sự cho Mỹ, nhưng với Trung Quốc nguyên vẹn. Phần lớn các nước láng giềng của Trung Quốc đã dịch chuyển dần theo hướng quan hệ an ninh gần gũi hơn với Mỹ. Chiều hướng này có thể được nhấn mạnh trong một cuộc xung đột được coi là bắt nguồn từ tính hiếu chiến của Trung Quốc.

Quốc gia then chốt nhất là Nhật Bản, với sức mạnh quân sự đang ngày một gia tăng của nước này, mối quan hệ đối kháng của nước này với Trung Quốc, và khả năng mạnh mẽ rằng Trung Quốc sẽ tấn công các căn cứ quân sự của Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản. Cách giải thích lại hiến pháp Nhật Bản gần đây, theo sáng kiến của Chính phủ Abe, đã hợp pháp hóa trên thực tế việc hỗ trợ quân sự cho Mỹ trong chiến tranh với Trung Quốc. Dĩ nhiên, khả năng về sự tham gia đáng kể của Nhật Bản trong cuộc chiến sẽ trở nên lớn hơn nếu Nhật Bản có liên quan tới vấn đề hoặc mâu thuẫn đã làm nổ ra xung đột (ví dụ ở biển Hoa Đông). Sự tham gia của quân đội Nhật Bản sẽ gần như được bảo đảm nếu Trung Quốc tấn công Nhật Bản. Mặc dù Trung Quốc có thể lựa chọn không tấn công các căn cứ Mỹ trên lãnh thổ Nhật Bản, một quyết định như vậy sẽ liên quan tới những trở ngại hành động lớn.

Còn đối với các khả năng, tàu ngầm, tàu chiến, máy bay tấn công, vũ khí tấn công và ISR có thể làm nên một sự khác biệt quan trọng trong một cuộc chiến khốc liệt vào năm 2025. Một cuộc xung đột Trung – Mỹ càng kéo dài, tác động có khả năng xảy ra của những đóng góp quân sự của Nhật Bản đối với phía Mỹ càng lớn. Trong một cuộc chiến khốc liệt kéo dài, Trung Quốc sẽ cảm thấy khó đấu tranh với các lực lượng Mỹ và Nhật Bản kết hợp, khi lực lượng Nhật Bản bù đắp cho sự tiêu hao của lực lượng Mỹ. Hơn nữa, sự tham gia của Nhật Bản sẽ giảm bớt nhu cầu của Mỹ lấy đi các lực lượng của mình ở nơi nào đó để tiếp viện.

Nhìn chung, sự tham chiến của Nhật Bản có thể gia tăng thiệt hại của Trung Quốc và bù đắp hoặc thậm chí làm giảm thiệt hại cho Mỹ trong một cuộc xung đột khốc liệt kéo dài. Vì các lực lượng Nhật Bản đang được cải thiện một cách vững chắc, sự tham chiến của nước này có thể mở rộng khoảng cách giữa thiệt hại của Mỹ và của Trung Quốc vào năm 2025 như đã được mô tả trên đây. Khả năng này củng cố nhận xét đã được đưa ra rằng thậm chí với A2/AD được cải thiện của Trung Quốc về sự vượt trội về quân sự đã giảm xuống của Mỹ, Trung Quốc không thể tin chắc vào việc chiến thắng một cuộc chiến khốc liệt kéo dài. Đồng thời, sự can thiệp của Nhật Bản sẽ khiến người Trung Quốc nổi giận và có thể kích động, kéo dài hoặc mở rộng cuộc xung đột. Điều đó có thể khiến Trung Quốc chiến đấu lâu dài hơn và chịu những phí tổn lớn hơn so với khi điều đó không xảy ra. Trung Quốc có thể mở rộng các cuộc tấn công vào Nhật Bản, mặc dù với cái giá của việc chuyển hướng các lực lượng vốn đã phải chịu sự tấn công và áp lực nặng nề.

Phụ thuộc vào nguyên nhân và địa điểm của cuộc xung đột, các nước Đông Á khác phần lớn sẽ cùng phe với Mỹ ở các mức độ khác nhau: với sự hỗ trợ từ cho phép sử dụng các căn cứ cho tới sự cam kết lực lượng có thể có (ví dụ như Australia, New Zealand, Philippines), cho tới việc hỗ trợ thận trọng cho Mỹ trong số các quốc gia có quan hệ vững chắc với Trung Quốc (đáng chú ý là Hàn Quốc) hoặc có dân gốc Trung Quốc đáng kể (ví dụ như Singapore, Malaysia, Indonesia, Thái Lan), cho tới ủng hộ cho Trung Quốc (chỉ có Triều Tiên). Sự tham gia của các lực lượng Australia, vì chất lượng của chúng, có thể có ý nghĩa về quân sự bất chấp quy mô nhỏ của chúng. Ngoài những đóng góp về quân sự, cuộc xung đột càng kéo dài và càng khốc liệt, thì Trung Quốc càng trở nên bị cô lập và có thể càng bị cô lập lâu dài hơn khỏi chính khu vực mà nước này có tham vọng dẫn dắt. Điều này, đến lượt nó, có thể củng cố những tiếng nói ủng hộ hòa bình ở Bắc Kinh (ví dụ như trong Bộ Ngoại giao).

(còn tiếp) 

Nguồn: www.rand.org

CĐQT số 01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s