Nhưng vai trò của các tổ chức phi chính phủ – đặc biệt là những tổ chức có quy mô toàn cầu – không chỉ là lobby áp lực. Trước hết đây là việc tiến hành những hoạt động độc lập mà các chính phủ hay giới kinh doanh tư nhân chỉ hướng tới việc tối đa hóa lợi nhuận chứ không làm điều thiện, không mặn mà gì hoặc coi thường. Trong suốt thế kỷ XXI, sẽ có sự chuyển dịch nhiều nhiệm vụ khác nhau cho các tổ chức xã hội – chủ yếu trong lĩnh vự đào tạo, giáo dục và văn hóa, cũng như bảo vệ môi trường và y tế, đặc biệt trong lĩnh vực phòng bệnh và an sinh xã hội. Công tác tư vấn của các chuyên gia kinh tế phi chính phủ đang được tiến hành trên quy mô rộng lớn. Họ có khả năng tư vấn cho các chính phủ các nước lạc hậu và các nước đang hoàn thiện thị trường và những nơi gặp khó khăn trong kinh doanh, ngày một nhiều hơn và tốt hơn so với những người theo chủ nghĩa chính thống thuộc tổ chức Bretton Woods hoặc những sứ giả được trả những khoản tiền hậu hĩnh của các chính phủ các nước có những ý đồ về quyền lợi.

Vấn đề là ở chỗ, sao cho trong mớ bòng bong các vấn đề, các tổ chức phi chính phủ không cho phép đặt lên vai mình những vấn đề thuộc phạm vi công việc và trách nhiệm của hai trụ cột cơ bản của nền kinh tế hiện đại, tức là thị trường và nhà nước. Các tổ chức phi chính phủ – nội địa và khu vực kể cả trong nước và quốc tế – không phải là người thay mặt những kẻ quan liêu nằm trong bộ máy chính phủ hay các địa phương để thực thi những nhiệm vụ và trách nhiệm đối với dân chúng. Các tổ chức này cũng không cho phép giới kinh doanh tư nhân đẩy cho mình những nhiệm vụ mà lẽ ra phải được tài trợ từ ngân sách, cho dù đó chỉ là những nhiệm vụ trong phạm vi trợ giúp xã hội đối với các tù nhân, và để họ dồn trách nhiệm dọn dẹp lên đầu mình khi đẩy cho người khác việc khắc phục hậu quả tiêu cực do hoạt động của họ gây ra, ví dụ như việc đổ rác thải ra môi trường chẳng hạn.

Nền tài chính công – một thể chế nền tảng làm trung gian giữa nhà nước và thị trường – tiếp tục thực hiện vai trò ngày càng to lớn của mình trong phạm vi xuyên quốc gia, và trong tương lai có thể trong phạm vi toàn cầu. Như vậy các tổ chức phi chính phủ không phải là chủ thể thương mại mang tính thị trường hay chủ thể nhà nước hay giữa các nhà nước, nhưng họ đứng cạnh những chủ thể này. Và họ là trụ cột thứ ba rất quan trọng của nền kinh tế hiện đại. Cần phải nhìn nhận các tổ chức này trong tổng quan toàn cầu.

Và kết quả là nhân loại sẽ gom góp những đặc tính của một xã hội công dân toàn thế giới, những đặc tính này sẽ quay lại củng cố nền kinh tế thị trường toàn cầu và nền dân chủ toàn hành tinh đang dần hình thành. Những nỗ lực cho việc cùng chơi với ba siêu xu thế là nhiệm vụ lớn nhất trong số những nhiệm vụ đang đứng trước loài người trong vòng một vài thế kỷ tiếp theo. Trong thời đại chúng ta hiện nay, đã có thể đặt vào mảnh vường đó viên đá nhỏ của mình.

Thứ sáu, tất cả những điều đó sẽ diễn ra trong môi trường cạnh tranh khốc liệt nhằm giành nguồn tài nguyên đang bị cạn kiệt và trong bối cảnh những cuộc tranh luận nảy lửa về tình trạng môi trường thiên nhiên. Hai vấn đề đang đan xen với nhau, bên cạnh đó, ý thức xã hội của bản chất các mối tương quan xuất hiện giữa các lĩnh vực này sẽ dần được tăng lên. Thỉnh thoảng lại xuất hiện những kịch bản theo khuôn mẫu của Millennium Ecosystem Assessment. Câu hỏi về những rào cản của sự tăng trưởng và về cấp độ cho phép tiêu hao vật liệu và năng lượng của nền kinh tế thế giới sẽ còn trở lại. Câu hỏi về những giới hạn trong việc xả rác thải lên hành tinh của chúng ta cũng sẽ được nhấn mạnh. Nhìn vào viễn cảnh trong lĩnh vực này, thì chúng ta không có nhiều may mắn cho lắm. Nhu cầu cung cấp vật liệu cần thiết cho cuộc sống của sáu hay trong tương lai là gần mười tỷ con người không phải cũng giống như trong thời kỳ cách đây không lâu – cho hai hay ba tỷ người. Xử lý rác thải phát sinh trong quá trình sản xuất và sử dụng tất cả của cải được tạo ra từ việc tiêu hao những vật liệu đó ngày càng trở nên khó khăn hơn. GDP trên đầu người ngày càng thấp đi, nhưng tất cả rác thải mang tính toàn cầu thì lại ngày nhiều lên.

Trong bối cảnh như vậy, thế kỷ XXI và các thế kỷ tiếp sẽ giống như chiếc kính vạn hoa. Có lúc trọng tâm sẽ tập trung vào việc cần thiết giảm bớt tiêu hao nguyên liệu, có lúc lại tập trung vào việc tạo ra những công nghệ mới và áp dụng những phát minh trong lĩnh vực vật liệu. Có lúc sự chú ý hướng tới việc tìm kiếm những nguồn nguyên liệu mới trong những vùng trước đây không có khả năng tiếp cận, lúc khác sự chú ý lại là những tranh cãi xung quanh việc điều chỉnh những giá trị và ưu tiên quan điểm “là gì” đặt trên quan điểm “có gì”. Có lúc xuất hiện nhiều giải pháp hòa giải, thương thảo, nhưng có lúc ở đâu đó lại xảy ra tranh chấp, cọ xát và bùng nổ cả những cuộc xô sát, đụng độ và chiến tranh. Những sự kiện như vậy diễn ra không ngừng giống như trong chiếc kính vạn hoa – những sự kiện đó hỗ trợ rất nhiều cho việc giảm bớt những rào cản, và một số đã giúp xóa bỏ được chúng. Tuy nhiên, điều rất rõ là không phải tất cả. trong nhiều vấn đề tình hình lại càng trở nên tồi tệ hơn.

Trong những bối cảnh như thế, tình hình không nhất thiết phải được thay đổi theo một hướng. Một mặt, thiếu nguồn cung nguyên liệu và sự bùng nổ khả năng của ngành công nghiệp hóa chất – mặt khác, nửa thế kỷ trước đây các loại vật liệu nhân tọa đã ở trong thời hoàng kim của mình (một phần do giới tạo mốt lăng xê), thay thế các quý ông thì tự hào trưng diện những chiếc áo nylon không cần là. Nếu như trước đây nhiều người mong muốn có được những chiếc áo khoác bằng vải tổng hợp và áo jacket bằng nylon hoặc bộ complet bằng sợi giả len thì ngày nay khôn gai thèm để ý tới những loại quần áo đó nữa. Nhờ những tiến bộ trong kỹ thuật canh nông (và thay đổi mốt để tạo nhu cầu) hướng mọi người tới những loại vải dệt từ sợi tự nhiên. Theo hướng đó, thay vì nylon hay vải sợi tổng hợp, chúng ta mặc những bộ đồ may từ vải lụa tơ tằm hay sợi lanh, vải bông và len.

Không chỉ có những người ăn mặc chải chuốt, mà hàng hóa phù hợp ngày càng nhiều. Trước đây, ở khu vực các nước phát triển hiện nay, người ta đi chân đất, mặc duy nhất một chiếc áo bằng vải bố. Giống như hiện nay hàng trăm triệu người, mà có thể hàng tỷ người ở các nước lạc hậu chẳng có cái áo thứ hai để thay đổi và thậm chí đã thành thói quen chỉ cởi trần, bởi chẳng có gì để mặc. Những kêu ca như thế, mặc dù trải qua nhiều thế hệ, chúng ta vẫn nghe thấy đâu đây. Trước tiên là bà mẹ, sau đấy là bà vợ và bây giờ là con gái mỗi khi mở chiếc tủ chất đầy quần áo nhưng vẫn phàn nàn rằng, chẳng có gì để mặc!… Rồi sẽ đến lúc, sẽ có những phàn nàn giống như thế từ những đứa cháu, hiện chưa sinh ra và rồi đến thế kỷ XXII vẫn những kêu ca như thế, lại từ những đứa cháu của những đứa cháu…

Vấn đề không nằm ở những loại mốt nhất thời, chúng có thể làm cho các vấn đề phức tạp thêm lên hay dịu bớt đi, cũng không phải ở những chuyện tào lao về kỹ thuật, là những thứ đem lại cho chúng ta nhiều hơn nhiều so với thói đỏng đảnh của mốt, mà là trong những câu hỏi cơ bản về nguồn nguyên liệu đang tồn tại, chúng ta biết rằng chúng sẽ cạn kiệt, nhưng chúng ta không biết về trữ lượng của chúng.

Những cọ xát xẩy ra liên tục, đặc biệt trong những việc nhỏ mang tính khu vực. Những tranh chấp và xung đột lớn – đặc biệt tại Trung Đông, xung quanh những khu vực chứa dầu mỏ tại Châu Phi hay dọc thềm lục địa Đông Nam Á – đang xảy ra, mà nhìn bề ngoài thì là do những nguyên nhân khác, nhưng về thực chất, nếu nhìn sâu hơn sẽ thấy vấn đề ở chỗ tiếp cận được các nguồn năng lượng. Bên cạnh những khu vực truyền thống chứa đựng những nguy cơ bùng nổ xung đột, lại xuất hiện những khu vực mới như Nam Cực. Nguyên liệu năng lượng – trước hết là dầu mỏ – chỉ là một, nhưng là yếu tố cốt yếu cung cấp năng lượng cho nền kinh tế thế giới. Rất nhiều nguồn dự trữ khác hiện đang bị cạn kiệt sẽ ngày càng khan hiếm hơn, bởi theo thời gian lịch sử chúng không được tái sinh. Còn thời gian địa chất thì vẫn là ẩn số đối với chúng ta.

Nói về dầu mỏ – bởi đây là vấn đề nguyên liệu và năng lượng số một của thế kỷ XXI – nên hy vọng rằng, thứ nhất – nguồn cung là rất lớn và dầu mỏ đủ dùng trong thời gian dài hơn nhiều so với những gì mà hiện nay đang gây lo sợ trong dư luận, thứ hai – xuất hiện những xu hướng tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế và các nguồn nguyên liệu mới. Nếu như tin vào những dự đoán về trữ lượng dầu mỏ, thì với mức tiêu thụ như hiện nay (khoảng 80 triệu thùng/ngày), trữ lượng sẽ bị cạn kiệt vào khoảng năm 2040. Còn đánh giá gần đây của BP thì nói về một khoảng thời gian là 40 năm. Về trữ lượng khí thiên nhiên, chúng ta còn đủ dùng trong 60 năm nữa. Liệu có đúng như vậy? Nếu không, sự thật ở đâu, sai sót ở đâu, chỗ nào thiếu kiến thức và chỗ nào là dối trá?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s