Dự thảo nghị quyết xử lý nợ xấu và hệ lụy

Dự thảo nghị quyết xử lý nợ xấu đang được phân tích, mổ xẻ tại Quốc hội, ở đây xin chỉ đưa ra những điểm quan trọng và đánh giá hiệu ứng thật sự của nghị quyết đối với hệ thống ngân hàng.

Như đã nói ở trên, cái khó khăn hiện tại của VAMC là không bán được những khoản nợ xấu đã được các ngân hàng giao vì thiếu cơ sở pháp lý, vì cơ chế không cho phép và điểm ch1inh là nợ xấu đã được giao cho VAMC với giá sổ sách của khoản nợ, nay muốn bán ra thị trường với cái giá này thì gần như không tưởng. Theo thông lệ quốc tế của những công ty quản lý nợ thì bình thường bán đấu giá và thu về khoản tiền trị giá 50% giá nợ xấu ghi trên sổ sách đã là thành công. Dự thảo cũng có cân nhắc thông lệ này và đề xuất VAMC sẽ bán theo giá thị trường và có thể dưới giá sổ sách của món nợ, hơn thế nữa đối với những khoản nợ đã giao cho VAMC với giá sổ sách, VAMC có quyền định lại giá, theo thẩm định của một cơ quan thứ ba, ngoài ra, chênh lệch giá ghi sổ và giá bán, ngân hàng có thể phân bổ vào kết quả hoạt động kinh doanh trên 5 năm.

Hiệu ứng thực sự của nghị quyết này là khi ngân hàng giao 100 đồng nợ xấu cho VAMC thì sau khi bán đấu giá, ngân hàng sẽ nhận được 50 đồng, trừ đi phí quản lý và phí tổ chức bán đấu giá. 50 đồng này là tiền thật, nhưng cũng không được dùng hết vì sẽ còn phải thanh toán cho NHNN số tiền mà NHNN đã ứng cho, dưới hình thức trái phiếu đặc biệt, khi trao nợ xấu cho VAMC. Cuối cùng số tiền tươi lấy lại được từ nợ xấu, cũng chẳng còn bao nhiêu.

Câu hỏi đặt ra là nghị quyết này có giải quyết được những khó khăn do nợ xấu của ngân hàng hay không? Theo kinh nghiệm quản lý ngân hàng trên thế giới, nếu tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng ở mức 5,7% thì ngân hàng có thể tự giải quyết, chẳng cần đến VAMC, đến nghị quyết xử lý nợ xấu. Nhưng khi tỷ lệ nợ xấu ở 2 con số trở lên thì nhất thiết phải tái cấp vốn bằng tiền thật thì ngân hàng mới có thể tiếp tục hoạt động. Thực sự thì ngân hàng yếu kém Việt Nam không thể mong chờ gì nhiều ở nghị quyết xử lý nợ xấu này. Có lẽ nghĩ quyết này chỉ giúp giải quyết bế tắc hiện tại của VAMC.

Hậu quả của hai dự thảo và nguy cơ Bank-run đối với hệ thống ngân hàng

Hai dự thảo nói trên, nếu lấy một cách riêng rẽ trong thời điểm khác nhau thì sẽ không thắc mắc, đặt vấn đề, nhưng khi thấy hai dự thảo này được tung ra cùng một lúc, nhiều người có thể nghĩ là Nhà nước đang tháo gỡ “cục máu đông” trong hệ thống ngân hàng qua 2 bước. Bước một giải quyết nợ xấu ngân hàng qua Quy định xử lý nợ xấu, và nếu sau đó ngân hàng vẫn chưa khôi phục được thì sẽ rút giấy phép hoạt động, nói một cách khác, sẽ bị phá sản và lúc đó người gửi tiền, theo dự thảo nói trên chỉ có thể trông cậy vào bảo hiểm tiền gửi.

Nguy cơ nói trên rất có thể xảy ra. Cụ thể, lấy thí dụ đối với ngân hàng Sacombank, một trong những ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất nước ta. Hiện Sacombank cho vay khách hàng 200.000 tỷ đồng và có vốn chủ sở hữu là 19.000 tỷ, hiện tại nợ xấu trên bản cân đối của ngân hàng này là 13.000 tỷ cộng vào đó 37.300 tỷ đã được bán cho VAMC. Như vậy là tổng nợ xấu là 50.000 tỷ (25% tổng dư nợ) đó là chưa kể 21.000 tỷ dự thu từ trước 2015 vẫn chưa được trả và 9.000 tỷ cấn trừ nợ còn nằm đó, như vậy tổng khoản tiền khó đòi là 80.000 tỷ (40% tổng dự nợ). Nếu ta so 80.000 tỷ nợ khó đòi với 19.000 tỷ vốn chủ sở hữu, thì ngân hàng này đã âm vốn từ lâu và theo luật ngân hàng hiện hành thì không còn quyền hoạt động. Nhưng luật lại căn cứ trên sổ sách và trên sổ sách của Sacombank chỉ có 13.000 tỷ nợ xấu (50.000 tỷ dự thu và cấn trừ nợ, được NHNN cho phép khoanh lại). Như vậy vẫn còn chút vốn (phải tính thêm tỷ lệ vốn tự có cho những khoản tài sản có khác) và tiếp tục hoạt động được.

Tuy nhiên, khi áp dụng Nghị quyết xử lý nợ xấu, thu lại 50% nợ xấu trao cho VAMC thì chính thức sẽ không còn vốn nữa và lúc đó NHNN sẽ bắt buộc áp dụng Quy định thu hồi giấy phép, khi đó sẽ thanh lý tài sản và sau khi trả nợ Nhà nước và người lao động, sẽ trả người gửi tiền ngân hàng. Hiện tại Sacombank nhận 290.000 tỷ tiền gửi, khi thanh lý tài sản, trên tiền mặt, tài sản hữu hình… không có quá 200.000 tỷ. Cuối cùng người mất tiền nhiều nhất chính là người dân gửi tiền.

Với lý luận trên, người gửi tiền sẽ đến Sacombank rút hết tiền đi gửi chỗ khác, tin đồn sẽ phát ra rất nhanh chóng và cuối cùng người dân sẽ xếp hàng ở mọi chi nhánh ngân hàng để rút tiền, đó là hiện tượng Đột biến rút tiền gửi (Bank-run). Hậu quả là ngân hàng này sẽ không có tiền để trả lại cho khách hàng và bắt buộc phải đóng cửa giải thể.

Khi hiện tượng này xảy ra thì lập tức sẽ lan tràn ra cả hệ thống ngân hàng theo hiệu ứng domino. Ở Việt Nam hiệu ứng này sẽ còn nhậy hơn vì hiện tượng sở hữu chéo, sân trong sân ngoài giữa ngân hàng. Qua nhiều vụ việc đã từng xảy ra ở Việt Nam, hiệu ứng “tin đồn” cũng đi rất nhanh và lan tỏa rất mạnh và có thể cả hệ thống ngân hàng có thể bị tê liệt. Nếu hệ thống ngân hàng ngừng hoạt động thì nền kinh tế quốc gia sẽ bị tổn hại nghiêm trọng.

Nguy cơ bank-run có thể xảy ra bất cứ lúc nào, chỉ cần một nhóm người ý thứ được là có thể mất hết tiền gửi, mặc dù không cố ý, nhưng tin đồn sẽ được tạo ra và cái vòng xoáy bank-run bắt đầu. Do vậy, nhà nước phải cấp bách trấn an dư luận và chính thức cam kết không để người dân mất một đồng tiền gửi ngân hàng. Cam kết như vậy cũng gần như đồng nghĩa với không phá sản ngân hàng và nếu có phá sản cũng phải có pương án trả người dân toàn bộ tiền gửi.

Giải pháp cho TCTD

Để thoát khỏi khủng hoảng nợ xấu của ngân hàng Việt Nam, có hai điều kiện nên tôn trọng.

Thứ nhất, muốn xóa nợ xấu, phải đổ tiền thật vào ngân hàng, tất cả những phương án khác, chỉ có tính cách tạm thời, có thể làm đẹp bảng cân đối, thống kê nhưng không có tác động cụ thể trong quản lý tài chính.

Thứ hai, là tránh xa những phương án dẫn đến phá sản ngân hàng, hậu quả không lường được và rất khó cứu vãn. Chỉ nhìn trong năm 2008, chính phủ Mỹ đã đồng ý để ngân hàng Lehman Brothers phá sản, hậu quả là cả hệ thống ngân hàng, Mỹ, rồi châu Âu và thế giới bị khủng hoảng kéo theo sau đó khủng hoảng tài chính thế giới và khủng hoảng kinh tế, tới nay vẫn chưa dứt. Gần đây nhất, ngân hàng lớn thứ tư của Italy, Monte dei Paschi, ngụp lặn trong nợ xấu, chính phủ Italy mặc dù đang gặp những khó khăn kinh tế tài chính nghiêm trọng, cuối cùng, đầu tháng 6 vừa qua cũng phải đổ tiền vào cứu ngân hàng, không để phá sản.

Do vậy, dự thảo quy định thu hồi giấy phép hoạt động TCTD khônng nên triển khai, nếu quy định này nhất thiết phải có về phương diện hành chính thì nên phê duyệt nhưng sau đó, cố gắng không bao giờ áp dụng.

Về nghị quyết xử lý nợ xấu, ta đã đi theo con đường VAMC và hiện nay bị bế tắc, không thể lùi lại, dự thảo nghị quyết này sau khi hoàn thiện sẽ khai thông con đường VAMC và ta nên tiếp tục. Tuy nhiên, như phân tích ở trên, phương án VAMC không giải quyết dứt điểm và lâu dài khủng hoảng nợ xấu của ngân hàng. Vì vậy, phải có những biện pháp khác kèm theo.

Thứ nhất, vì có sự chênh lệch âm giữa giá bán đấu giá và giá ghi sổ sách của nợ xấu, ngân hàng sẽ khó lấy lại vốn đã mất, do đó, phần thâm hụt này có thể gây khó khăn cho ngân hàng tái tạo nguồn vốn cũng như có vốn để tiếp tục kinh doanh. Để tài trợ chênh lệch giá nói trên, VAMC có thể đứng ra, gom những khoản chênh lệch rồi phát hành trái phiếu quốc tế, dưới sự bảo lãnh của chính phủ, rồi cho ngân hàng vay lại. Tất nhiên ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm trả nợ gốc và lãi trái phiếu. Nếu có được sự trợ giúp của một tổ chức quốc tế như WB, IMF hay ADB tì nhiệm vụ tài trợ này sẽ nhẹ nhàng hơn nhiều. Tất nhiên, vấn đề chính ở đây là sự bảo lãnh của chính pủ, sẽ làm tăng lên sổ nợ công quốc gia, nhưng với cách làm này, ta sẽ không đụng đến một đồng của ngân sách.

Thứ hai là căn nguyên nợ xấu của ngân hàng Việt Nam, không phải chỉ là sự quản lý thiếu chuyên nghiệp, gốc rễ của nó nằm ở sở hữu chéo, ở các thương vụ sân sau, ở sự thâu tóm ngân hàng với mục đích chính là để dùng ngân hàng tài trợ kinh doanh cho con nợ. Tháo gỡ những sự ràng buộc lợi ích giữa những nhóm lợi ích không phải là chuyện dễ. Con đường tắt để xử lý vấn đề này là, dưới sự giám sát của Ngân hàng nhà nước, hợp nhất những ngân hàng này lại. Để hợp nhất, tất cả những liên hệ bất bình thường sẽ lộ diện và sau đó, mô hình tổ chức, phân quyền tín dụng và chọn lựa lãnh đạo chuyên nghiệp, hoàn toàn độc lập với con nợ, mặc dù là chủ của ngân hàng sẽ do NHNN phê duyệt.

Nguồn: TKNB – 19/06/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s