Giới chóp bu

Giới chóp bu chính trị ở Việt Nam là các nhà lãnh đạo của đảng Cộng sản (ĐCS), họ nắm giữ các chức vụ cao trong chính phủ, quân đội, cảnh sát, và các cơ quan khác của nhà nước. Giữa họ có một quan điểm đồng thuận gần như tuyệt đối rằng nền dân chủ bầu cử là thứ không thích hợp với Việt Nam (1). Họ bác bỏ đa nguyên chính trị, bầu cử tự do, và mở rộng tự do dân sự. Theo họ, đây là các đặc điểm của nền dân chủ “tư sản”, vốn chỉ phục vụ lợi ích của người giàu và các tập đoàn, và các nhóm lợi ích đặc quyền đặc lợi khác.

Quan điểm về nền dân chủ “tư sản” này có nguồn gốc trong tư tưởng của Karl Marx, khi ông phê phán nền dân chủ phương Tây thế kỷ 19. Quan điểm này dễ dàng du nhập vào một nước như Việt Nam, khi từng là một xã hội phong kiến với sự phân chia giai cấp giữa nông dân và địa chủ, và nhất là khi Việt Nam từng bị Pháp và Mỹ – các nước có nền dân chủ bầu cử – xâm chiếm, gây ra nhiều thiệt hại về người và vật chất. Với lịch sử như vậy, giới lãnh đạo Việt Nam thường coi các nước phương Tây là thù địch và đạo đức giả khi họ muốn trừng phạt Việt Nam vì vi phạm các nguyên tắc dân chủ.

Trên thực tế, giới lãnh đạo cho rằng, Việt Nam đang hướng đến một nền dân chủ toàn diện và thực chất hơn nhiều so với nền dân chủ bầu cử. Đó là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, và đây chính là mục tiêu ưu tiên, chứ không phải là đa đảng hay là các quyền tự do dân sự. Cốt lõi của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự bình đẳng của mọi công dân trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, và xã hội. Và để đạt đến nền dân chủ xã hội chủ nghĩa này, thì điều tiên quyết là phải giữ vững sự lãnh đạo của ĐCS.

Chính quyền Việt Nam thừa nhận hệ thống của họ còn nhiều yếu kém, nhiều quan chức tham nhũng và lạm quyền. Tuy nhiên, theo họ thì đây chỉ là một bộ phận nhỏ, và chính quyền vẫn kiên định theo đuổi mục tiêu đưa Việt Nam thành một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Nhiều chính sách lớn đang được thực hiện để mở rộng dân chủ, như là cải tiến các thủ tục để người dân có thể dễ dàng phản ánh lên chính quyền các ý kiến, khiếu nại và mong muốn của họ. Chính quyền cho rằng, những thay đổi dần dần khi tiến hành các chương trình dân chủ cấp địa phương và việc mở rộng số lượng ứng viên trong các cuộc bầu cử sẽ giúp cải thiện hệ thống; trong khi đó, những thay đổi lớn như cho phép đa đảng sẽ dẫn đến hỗn loạn chính trị.

Cũng có một vài quan chức cấp cao trong ĐCS kêu gọi cải cách chính trị toàn diện, nhưng rồi tiếng nói của họ nhanh chóng bị dập tắt. Nổi bật nhất là Trần Xuân Bách, người từng là ủy viên Bộ Chính trị, đã bị tước bỏ hết mọi chức vụ trong ĐCS khi kêu gọi Việt Nam cần thực hiện nền dân chủ đa đảng (2). Một trường hợp khác, ít nổi tiếng hơn, là Nguyễn Vũ Bình, người từng có 9 năm làm biên tập viên cho Tạp chí Cộng sản. Vào năm 2002, ông tìm cách thuyết phục giới lãnh đạo cho phép thành lập đảng Tự do – Dân chủ nhằm cạnh tranh với ĐCS trong các cuộc bầu cử. Song vì việc này, ông bị cách chức và đuổi ra khỏi Đảng (3).

Trong giới chóp bu của chế độ hiện nay, vẫn đang còn những cá nhân ủng hộ cải cách chính trị hơn nữa (4). Họ cũng cởi mở hơn đối với những tiếng nói bất đồng trong xã hội. Tuy nhiên, hầu hết những người này không ủng hộ nền dân chủ đa đảng; họ đồng ý với những người bảo thủ – vốn chiếm số đông – rằng cần phải duy trì vai trò lãnh đạo của ĐCS. Rõ ràng giới chóp bu của ĐCS tương đối thống nhất về vấn đề này.

Tuy nhiên, hiện nay, một bộ phận lớn người Việt Nam bắt đầu ủng hộ các cuộc bầu cử đa đảng, mở rộng tự do dân sự, báo chí độc lập, cũng như nhiều đặc điểm khác của nền dân chủ bầu cử. Trong số đó, có nhiều người là những nhân vật nổi tiếng hoặc thậm chí là các đảng viên ĐCS. Họ thường xuyên lên tiếng với tư cách cá nhân hoặc tập thể. Một ví dụ gần đây là Kiến nghị về Sửa đổi Hiến pháp 1992 vào năm 2013. Kiến nghị này ban đầu có được chữ ký ủng hộ của 72 người, gồm các giáo sư, luật gia, các quan chức nghỉ hưu, quan chức quân đội, nhà văn, nhà báo và nhiều người khác nữa. Sau đó, bản kiến nghị được lưu hành rộng rãi trên internet và nhận được hàng trăm chữ ký bổ sung. Đi kèm với kiến nghị này là một bản hiến pháp khuyến nghị mang tính dân chủ với những đề xuất như cho phép đa đảng.

So với thời của những năm 1990 thì các phát biểu công khai, các kiến nghị, và các hoạt động kêu gọi cải cách sâu rộng về mặt chính trị của Việt Nam đang tỏ ra là một bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, bên trong các thế lực chính trị hiện đang có dấu hiệu rạn nứt nội bộ, thì lượng người ủng hộ cải cách chính trị và dân chủ bầu cử vẫn còn rất nhỏ so với những người phản đối nó. Do đó, trong tương lai gần, giới chóp bu chính trị vẫn chưa đóng vai trò tích cực trong tiến trình dân chủ hóa ở Việt Nam.

Tính chính danh

Tính chính danh của ĐCS tồn tại chủ yếu là nhờ những thành tích của nó trong việc lãnh đạo các cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước, cũng như việc cải thiện điều kiện sống của người dân Việt Nam (5).

Không nghi ngờ gì nữa, có rất nhiều người Việt Nam không công nhận tính chính danh của nhà cầm quyền – đặc biệt là những người đứng về phía chính quyền Việt Nam Cộng hoà cũ, hoặc những người bị chính quyền đàn áp hay tịch thu tài sản, và cả những người từng ủng hộ cuộc chiến thống nhất đất nước nhưng cuối cùng lại thất vọng với kết quả hiện tại. Bên cạnh đó, rất nhiều người khác chấp nhận chế độ hơn là ủng hộ nó. Tuy nhiên, nhìn chung thì hầu hết người Việt nam chấp nhận tính chính danh của chế độ.

Tính chính danh của chế độ bắt đầu bị nghi ngờ từ giai đoạn cuối những năm 1970 cho đến giữa những năm 1980. Nhiều người Việt Nam ở miền Nam cực kỳ bất mãn và thậm chí thù ghét chính quyền Cộng sản mà họ phải chấp nhận sau năm 1975. Ngoài ra, đời sống kinh tế rất tồi tệ – không chỉ ở miền Nam mà còn trên toàn quốc. Lạm phát tăng cao, sản xuất nông nghiệp sụt giảm, khan hiếm lương thực đặc biệt là ở thành thị, và viện trợ nước ngoài không còn nữa. Hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung mà chính quyền cộng sản theo đuổi đã rơi vào khủng hoảng. Rất nhiều người Việt Nam rời bỏ đất nước.

Những áp lực này đã buộc giới lãnh đạo đất nước phải xem xét lại mô hình kinh tế của họ, và rồi cuối cùng họ phải thay đổi nó. Vào cuối những năm 1980, kinh tế Việt Nam dần chuyển đổi sang mô hình mà các quan chức gọi là “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; trong đó có nhiều điểm giống với các nền kinh tế tư bản chủ nghĩa ở Thái Lan, Philippines, Indonesia và nhiều quốc gia châu Á khác. Đời sống người dân dần được cải thiện và nền kinh tế nở rộ trên cả nước.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trung bình khoảng 7% mỗi năm trong giai đoạn 1995-2013 (6), và là một trong những nước có tăng trưởng cao nhất châu Á. Vào giữa những năm 1980, Việt Nam là một trong những nước nghèo nhất thế giới; tuy nhiên, sau đó đã dần trở thành một quốc gia có thu nhập vào hàng trung bình thấp. Vào đầu những năm 1990, gần 60% người dân Việt Nam sống ở mức nghèo đói; song đến năm 2010 con số này đã giảm xuống chỉ còn 21%. Chưa đến hai thập kỷ, điều kiện sống của hơn 30 triệu người Việt Nam đã được nâng lên trên mức nghèo đói. Chỉ số phát triển con người của Việt Nam đã tăng từ 0.439 vào năm 1990 lên 0.617 vào năm 2012 (7).

Những thay đổi quan trọng này về điều kiện sống và nền kinh tế đã củng cố tính chính danh của chế độ. Một cuộc khảo sát vào năm 2011 cho thấy rằng mức độ “ủng hộ chế độ” của người Việt Nam là trên 85% – mức cao nhất trong số 11 quốc gia châu Á được khảo sát (8). Rõ ràng là con số trên đã cho thấy mức độ ủng hộ đáng kể của người dân đối với chế độ.

Từ năm 2008, nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng chậm lại, đầu tư nước ngoài giảm, lạm phát cũng tăng dần và bất bình đẳng gia tăng. Nếu những xu hướng này ngày càng tiếp tục, chúng có thể làm xói mòn sự ủng hộ của công chúng cho chế độ.

Một mối đe dọa khác với chế độ chính là nạn tham nhũng, và ai cũng phải công nhận tình trạng phổ biến của nó. Nếu nạn tham nhũng trở nên nghiêm trọng hơn, chắc chắn niềm tin của người dân vào chính quyền sẽ còn suy giảm hơn nữa. Về tổng thể, phần lớn người dân Việt Nam vẫn chấp nhận tính chính danh của chế độ, song dường như con số này đang ngày càng tụt giảm. Đây cũng là một chỉ dấu vô cùng quan trọng cho tiến trình dân chủ hóa tại Việt Nam.

(còn tiếp)

Người dịch: Minh Anh

Nguồn: Benedic J. Tria Kerkvliet, Democracy and Vietnam, trong sách William Case, 2015, Routledge Handbook of Southeast Asian Democratization, Routledge.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s