I/ Hệ thống trung quán: vai trò và ý nghĩa

Phật giáo đã ảnh hưởng sâu xa đến nền triết học và tôn giáo Ấn Độ trên mấy ngàn năm. Nó thách thức lòng tự mãn và kêu gọi từ bỏ thuyết giáo điều cực đoan. Ngay từ khởi thủy, Phật giáo đã chọn phương pháp phân tích phê phán (vibhajyavãda). Phật giáo giữ một vị trí trung tâm trong sự phát triển của nền triết học Ấn Độ. Các hệ thống Bà-la-môn giáo và Jaina giáo đều phát triển dưới ảnh hưởng trực tiếp của Phật giáo. Các tông phái và hệ phái mọc lên như nấm. Các giáo thuyết được hệ thống và các chi tiết được hình thành dưới tác động này. Người ta bắt đầu chú trọng nhiều đến vấn đề luận lý và nhận thức. Các thuật ngữ chính xác dần phát triển và Luận tạng – nền văn học khổng lồ – dần ra đời. Triết học Ấn Độ mang tính phê phán cao hơn và phong phú hơn, nó trở nên thâm áo và quảng bác.

Chính bản thân Phật giáo cũng có những biến chuyển sâu sắc. Nó mang một sinh mệnh tối quan trọng và vô cùng đa dạng. Ngay cả các tông phái và hệ phái, dù chỉ xét theo các tiêu chuẩn Phật giáo không thôi, cũng đã khiến cho người ta phải hoang mang bối rối. Xu hướng phán giáo, nghĩa là phân chia Phật giáo thành nhiều tông phái và hệ phái, đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử Phật giáo. Các hội đồng san định kinh điển được kết tập nhiều lần để quyết định xem cái nào là chánh pháp và vạch rõ ra các giáo lý pha tạp, điều đó là một minh chứng hùng hồn cho xu hướng này. Kathãvatthu (Luận sự) có lẽ là bản ghi chép cổ nhất bằng tiếng Pãli về những khác biệt giáo lý giữa các tông phái. Các sử gia Phật giáo như Buston và Tãranathã đã nói về ba thời kỳ chuyển pháp luân (dharmacakra-pravarttana) như sau:

Ngay từ giai đoạn sơ kỳ – sơ thời giáo – giáo pháp nguyên thủy đã loại bỏ tư tưởng Không (nghĩa là cho rằng vạn pháp thực hữu). Do vậy mà các triết gia ngoại đạo đã có thể rầm rộ trách cứ Phật pháp một cách dễ dàng, bằng những lời đả kích sai lệch.

Bởi thế, đến thời kỳ tiếp theo – nhị thời giáo – đức Phật đã thuyết giảng giáo lý Trung đạo, lấy lập trường phủ định – tức tư tưởng Không làm trung tâm. Thế nhưng kinh điển trong thời kỳ cuối này giới thiệu các mức độ khác nhau của Thực tại; hiển bày vạn pháp:

+ trong biến kế sở chấp tính (parikalpita) như là cái hoàn toàn không tồn tại,

+ trong y tha khởi tính (paratantra-svabhãva) như là thực hữu, xét theo quan điểm của Thự Tại Thường nghiệm hay Tục đế (samvriti),

+ hoặc trong hình thức ủa viên thành thực tính (parinisbanna) như là sự biểu hiện của Thực Tại Tuyệt Đối.

Do đó, thời kỳ thứ ba đặt dấu chấm hết cho hai quan điểm cực đoan này, chứa giáo lý liễu nghĩa (nĩtãrtha) và không thể trở thành đối tượng cho bất kỳ cuộc tranh luận nào. Trái lại, hai thời kỳ chuyển pháp luân kia đều bất liễu nghĩa (neyãrtha), và có thể trở thành chủ đề cho các cuộc tranh luận. Đó là ý kiến của các luận sư Vijňãnavãda (Duy thức tông)… Tuy nhiên, Trung quán tông cho rằng:

Trong thời kỳ chuyển pháp luân thứ hai, vì muốn hóa độ cho chúng sinh xu nhập đại thừa, nên Đức Thế Tôn thuyết vạn pháp vô tự tính, chúng bất sinh (anutpanna), bất diện (aniruddha), tự tỉnh Niết Bàn, giáo pháp vi diệu thù thẳng… Theo các luận sự Trung quán tông thì các kinh điển xuất hiện trước đó và kinh điển mới nhất đều bắt liễu nghĩa, chỉ có trung đạo mới là liễu nghĩa”.

Bỏ qua các yếu tố ẩn dụ cùng những điểm màu mè thiên lệch, đoạn văn trên muốn nói rằng có ba bước ngoặt quan trọng trong lịch sử Phật giáo. Ba bước ngoặt đó là:

1/ Giai đoạn thực tại luận và đa nguyên luận trong thời kỳ đầu, bao gồm các tông phái tiểu thừa: Theravãda (Thượng tọa bộ), Vaibhaãşhika (Tỳ bà sa luận bộ). Đây được gọi là hệ thống Ãbhidharmika (A tỷ đạt ma). Tông phái Sautrãntika (Kinh lượng bộ) là một bộ phận tu chính cho Thực tại luận cực đoan này.

2/ Giai đoạn hai hay hệ thống triết học Trung quán của Nãgãrjuna (Long Thọ) và Ãrya Deva (Đề Bà, còn gọi là Thánh Thiên), xiển dương học thuyết về Tánh Không, hay Tuyệt đối luận (Absolutism).

3/ Giai đoạn cuối là hệ thống Yogãcãra (Du già tông) của Asanga (Vô Trước) và Vasubandhu (Thế Thân), và về sau là Vijňãnavãda của Dignãga (Trần Na) và Dharmakĩrti (Pháp Xứng).

Các nhà sử học Phật giáo như Buston (1290 – 1364) và Tãranãtha (1574 – 1608) sống không quá gần mà cũng không quá xa thời đại của các trào lưu tư tưởng đó, cho nên họ có thể lĩnh hội được toàn bộ vấn đề. Trung quán tông là bước ngoặt của Phật giáo. Nó là hệ thống trung tâm nòng cốt. Giống như vai trò của Kant trong triết học phương Tây hiện đại, hệ thống Trung Quán tông đã tạo ra một cuộc cách mạng trong tư tưởng Phật giáo. Giáo sư Stcherbatsky đã phát biểu về hệ thống này:

Nó chưa bao giờ được thấu hiểu hoàn toàn”.

“Đó là những gì mà một cuộc cách mạng triệt để đã chuyển hóa giáo hội Phật giáo, khi một tinh thần mới mẻ, vốn từ lâu đã ẩn tàng trong đó, đạt đến giai đoạn chín muồi vào những thế kỷ đằng sau CN. Khi chúng ta thấy một giáo lý vô thần phủ nhận linh hồn lại thuyết giảng về con đường đưa đến Giải Thoát Tối Hậu bằng cách hủy diệt hoàn toàn cuộc sống, và thờ phụng đấng sáng lập – vốn chỉ là một con người, khi ta thấy giáo lý đó thay thế một Giáo Hội vĩ đại với Thượng Đế Tối Cao – được vây quanh bởi vô số các đền đài thờ chư thần, cùng đám đông các bậc thánh, vốn là loại tôn giáo đòi hỏi sự hiến dâng cao độ cùng những lễ nghi phiền toái, và một tầng lớp tăng lữ đông đảo – bằng lý tưởng giải thoát tất cả chúng sinh, một sự giải thoát không nằm trong hủy diệt, mà trong đời sống vĩnh cửu; khi thấy như vậy thì chúng ta mới hoàn toàn được biện minh khi tin chắc rằng lịch sử tôn giáo khó lòng chứng kiện được một sự đột phá như thế giữa cá mới và cái cũ – sự đột phá diễn ra trong bối cảnh những giáo lý cũ vẫn cứ tiếp tục quả quyết rằng mình là hậu duệ chung từ cùng một đấng sáng lập tôn giáo”.

Trong siêu hình học, thì đó là cuộc cách mạng chuyển từ Đa nguyên luận toàn triệt [radical plurallism] (dharma-vãda) sang Tuyệt đối luận toàn triệt [radical absolutism] (advaya-vãda). Đây là sự chuyển biến từ tính đa thù sai biệt của vạn pháp (dharmãh) sang yếu tính nhất như ẩn tàng trong vạn pháp, tức pháp tính (dharmatã). Đứng về phương diện nhận thức luận mà nói, thì đây là cuộc cách mạng chuyển từ thuyết kinh nghiệm và giáo điều độc đoán (drşti-vãda) sang thuyết phê phán mang tính biện chứng (tức Śũnyatã: Tánh Không hay madhyamã pratipad: Trung đạo). Đứng về phương diện đạo đức mà nói, thì đây là cuộc cách mạng chuyển từ lý tưởng tự độ mang tính ích kỷ sang hạnh nguyện phổ độ tất cả chúng sinh không điều kiện. Không chỉ giải thoát khỏi sinh tử luân hồi và khổ đau phiền não (kleśãvaranņanivŗttih), mà giờ đây mục tiêu là đạt đến Tối thượng chính giác bằng cách xóa bỏ lớp vỏ Vô minh đang che phủ cái Như Thực. Đây là chuyển biến từ quả vị A La Hán sang quả vị Bồ Tát; Bỉ (karuņã) và Trí (prajňã) hay Tánh Không (śũnyatã) đều đồng nhất với nhau. Lý tính thực tiễn và Lý tính lý thuyết hài hòa tương hợp cùng nhau.

Trong tôn giáo, đây là cuộc cách mạng chuyển từ thực chứng luận [positivism] sang phiếm thần luận tuyệt đối. Tôn giáo là ý thức về sự Hiện Hữu Siêu Nhiên vốn tiềm tàng trong vạn hữu, đó là ý thức về cái mà Otto đã hoan hỷ gọi là “sự huyền mật của cái vĩ đại” [mysterium tremendum]. Phật giáo nguyên thủ hay Theravãda chưa phải là tôn giáo theo nghĩa này. Nó chỉ là một tổ chức của các tu sĩ gắn bó nhau bằng giới luật và bởi lòng kính ngưỡng đối với bậc Đạo sư mang bản chất con người. Đây là một tổ chức có giới luật khắt khe, đặc biệt là đối với các vị có chức sắc. Nhưng trong đó không có lễ bái thờ phụng, không có lòng nhiệt tình tôn giáo, cũng không có lòng mộ đạo hướng về một đấng siêu nhiên. Đức Phật không được gán cho một chức năng mang tầm vóc vũ trụ nào, mà Ngài chỉ là một người được tôn xưng, ngoài ra không còn chi khác nữa. Sự hiện hữu của Ngài sau khi nhập Niết Bàn vẫn còn là một nghi vấn, đây là một trong những điều bất khả tư nghị. Sự trỗi dậy của Trung quán tông, ngay lập tức, chính là sự trỗi dậy của Phật giáo theo nghĩa là một tôn giáo. Đối với Phật giáo đại thừa thì đức Phật không phải là một nhân vật lịch sử. Ngài là yếu tính của vạn pháp hay Pháp thân (Nirmãņa-kãya) để phổ độ chúng sinh khỏi chốn vô minh và truyền bá Chánh pháp. Sự hợp nhất tất cả chúng sinh tạo thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Nghi thức lễ bái và cúng dường chư Phật cùng Bồ Tát bắt đầu xuất hiện, có lẽ do ảnh hưởng từ phương Nam. Điều này đã đặt nền tảng cho sự chuyển biến cuối cùng của Phật giáo – giai đoạn Mật tông. Mật tông là sự kết hợp duy nhất giữa mạn đà la (mantra), nghi quỹ và lễ bái. Nó vừa là tôn giáo vừa là triết học. Trong Bà la môn giáo cũng diễn ra sự chuyển biến tương tự, rõ ràng là chịu ảnh hưởng từ sự chuyển biến của Phật giáo.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s