Nói tóm tắt thì chặng đường này là như sau : những người Bonsevich lên nắm chính quyền vào năm 1917, với sơ đồ lịch sử marxist cổ điển trong đầu họ : CNXH kế tiếp sau CNTB. Tuy nhiên, được phép làm một cuộc cách mạng ở Nga bởi vì nước Nga là khâu yếu nhất của hệ thống đế quốc chủ nghĩa thế giới. Và cuộc cách mạng ở phương Tây, nhất là ở Đức, sẽ đến tiếp sau để hợp pháp hóa cuộc cách mạng nổ ra hơi sớm một chút ở Nga. Nhưng sự tiên đoán đã tỏ ra sai lầm. Thế thì người ta đã làm gì trong trường hợp bất ngờ ấy ? Và đây là những người Bonsevich, trong một nước mà nông dân chiếm ưu thế, còn giai cấp vô sản là thiểu số. Vả lại, đảng Bonsevich thực sự không là một đảng vô sản, mà là một đảng trí thức. Thêm vào đó, nước Nga năm 1917 chỉ là một nước ở vào giai đoạn đầu tiên của CNTB, thậm chí người ta còn có thể nói rằng cuộc chiến tranh năm 1914 và cuộc cách mạng đã làm cho sự lạc hậu của nước Nga trầm trọng hơn. Nước Nga vào năm 1914 đã hiện đại hơn nước Nga năm 1917 – 1918. Vậy thì người ta phải làm gì trong tình hình CNXH thắng lợi ở Nga mà không kéo theo một cuộc cách mạng ở phương Tây ? Tất nhiên là những người Bonsevich sẽ không rút lui. Thế là họ áp đặt quyền lực của họ trong thời gian nội chiến 1918 – 1921, và thậm chí lúc đó họ đã có ý định – ngay từ thời Lenin – xây dựng « CNXH trong một nước duy nhất ». Vào thời kỳ đó, họ đã không dùng công thức ấy, nhưng đó thật sự chính là họ đang thử làm trong thực tiễn. Bởi vì họ đã lợi dụng một thực tế là kinh tế và xã hội công dân ở Nga đã bị tiêu tan trong quá trình nội chiến để cố gắng thay thế chúng bằng một hệ thống kinh tế nhà nước : một nền kinh tế chiến tranh dưới sự độc tài của đảng. Nhưng chính sách này chỉ đẩy nhanh thêm sự suy sụp của nền kinh tế và xã hội công dân do cuộc đại chiến gây ra ; kết quả là nước Nga, vào lúc những người Bonsevich giành được thắng lợi hoàn toàn, chỉ còn là một cảnh hoang tàn.

Khi đó vào năm 1921, những người Bonsevich bắt buộc phải thực hiện một bước lùi bằng cách đưa ra chính sách NEP, nghĩa là rút cục họ chấp nhận sẽ xây dựng CNXH trong một nước duy nhất. Song điều đó không hề bao hàm việc từ bỏ chủ nghĩa Marx. Đối với họ, sơ đồ marxist vẫn luôn luôn rất quan trọng, ngay cả đối với Stalin. Sau năm 1921, lập luận của họ là như sau – và vào thời kỳ đó lý lẽ ấy tỏ ra khá hợp lý : CNTB đã được ổn định, nhưng một ngày kia sẽ có một cuộc khủng hoảng mới – và đã có một cuộc khủng hoảng thật vào năm 1929 ; cũng một ngày nào đó sẽ có một cuộc chiến tranh mới – và đã có thật, một cuộc chiến tranh vào năm 1939. Cuộc chiến tranh này không phải là chiến tranh đế quốc chủ nghĩa theo nghĩa của Lenin nhưng nó đã nổ ra thật sự. CNTB vậy là chỉ có thể ngày càng được ổn định và vững chắc và trong khi chờ đợi thì đảng Bonsevich phải bảo vệ thành quả cách mạng trong một nước duy nhất mà ở đó cách mạng đã thành công, tức là ở nước Nga.

Và hơn nữa, họ đã tin vào điều đó

Và để được như thế, trong hoàn cảnh bị bao vây, thì nước Nga XHCN cần phải hùng mạnh, bởi vì chỉ cần sự tồn tại của nó cũng đã là một thách thức và đe dọa đối với CNTB. Vậy phải đẩy nhanh việc xây dựng CNXH trong một nước duy nhất và đó chính là ý nghĩa của cuộc đại « cách mạng từ bên trên » của những kế hoạch 5 năm của Stalin vào những năm 1930. Điều đó không có nghĩa là Stalin vào những năm 1930 đã từ bỏ cuộc cách mạng thế giới, từ bỏ chủ nghĩa Marx, từ bỏ ảo tưởng ; đúng hơn điều đó có nghĩa là sau 1929 tất cả nghị lực của hệ ý thức không tưởng được hướng vào công cuộc xây dựng đất nước.

Marie Mendras : chúng tôi thích trở lại định đề xuất phát ở cuốn sách của ông mà ông vừa mới khẳng định lại, đó là : những người xô viết là những nhà marxist và vì vậy họ có một ý thức hệ tổng thể. Ông đã sử dụng trong cuốn sách thuật ngữ « CNXH toàn vẹn » mà đối với ông là đồng nghĩa với chế độ cực quyền. Theo ông thì vào cuối những năm 1930, Stalin tin vào cuộc cách mạng thế giới, tin vào Marx. Điều này đáng phải thảo luận kỹ, nhưng chúng tôi muốn trở lại ý tưởng này là vì đã có một sự phân cực trong Xô viết học, đặc biệt Xô viết học Anglo-Saxon, xung quanh mô hình cực quyền và mô hình cải lương – xét lại, và vì mô hình cải lương đã thất bại, nên ông là người có lý : Liên Xô trong 70 năm qua đã là chế độ cực quyền, vì cực kia đã nhầm lẫn. Tôi tin rằng việc cực kia đã tỏ ra sai lầm và việc Liên Xô với tư cách nhà nước Xô viết đã sụp đổ vào năm 1991 không có nghĩa là một cách tự động tất cả những dữ liệu của mô hình cực quyền phải nhất thiết được chấp nhận mà không phải tranh cãi gì. Thật sự ông có nghĩ rằng  những nhà lãnh đạo này – từ những năm 1930, nhưng nhất là từ khi Stalin mất, vào lúc mà còn khá dễ hiểu người ta phản ứng như thế nào, khi chế độ độc tài không còn nữa – tin vào sự không tưởng ? Trong toàn bộ tác phẩm của ông, ông nói về những người lãnh đạo như những người có một lòng tin, tin vào CNXH, tin vào Marx, tin đến cùng vào không tưởng và muốn thực thi nó. Phải chăng chỉ có thể nghĩ rằng bắt đầu từ những năm 1930, người ta đang ở trong một hệ thống ngoại lệ, và rằng trong thực tế không thể nói được Stalin, Béria và những người khác tin vào cái gì, chừng nào hệ thống còn là độc tài ? Từ những năm 1950 và nhất là những năm dưới thời Breznhev mà ông nói đến tương đối ít, người ta có ấn tượng nhiều hơn về một Liên Xô không còn lòng tin nữa, đã phi ý thức hệ hóa và ngay cả đến công thức mà ông dùng rất nhiều, công thức « đảng – ý thức hệ trị » cũng không còn hoàn toàn thích hợp. Phải chăng thực ra là ông đã quá thổi phồng cái ưu thế của ý thức hệ, và niềm tin của những người lãnh đạo vào một chủ nghĩa xã hội toàn vẹn ?

Marlin Malia : Tất cả những nhà lãnh đạo Xô viết đều sống trong không tưởng theo nghĩa họ chấp nhận CNXH như đã được Marx định nghĩa. Điều đó không có nghĩa đây là những nhà không tưởng ôn hòa đang mơ tưởng về một xã hội tương lai rực rỡ. Đối với họ, CNXH là sự phủ định CNTB một cách rất cụ thể, mà bản chất của CNTB là sở hữu tư nhân. Đó là định nghĩa của Marx, định nghĩa của mọi CNXH châu Âu cho đến tận sau Đại chiến thế giới thứ II. Công Đảng Anh đã từ bỏ sở hữu xã hội chỉ mới được vài tháng nay. Đảng Xã hội Pháp chưa bao giờ từ bỏ sở hữu xã hội, ít nhất xét về mặt công khai nói ra. Đảng Xã hội Đức chỉ từ bỏ nó vào năm 1954, những người xã hội Tây Ban Nha vào năm 1974. Quan niệm về CNXH này như là một sự kết thúc tuyệt đối của chế độ sở hữu tư nhân, của tiền tệ, thị trường… cũng đúng là quan niệm của Engels, của Marx, của Kautsky và của cả Đệ nhị Quốc tế.

Nhưng học thuyết này chưa bao giờ được các đảng của Đệ nhị Quốc tế áp dụng cả, bởi vì họ muốn có đa số tuyệt đối ở Nghị viện (như Allende) trước khi chuyển từ không tưởng sang hành động thực tế. Khốn nỗi người ta sẽ không bao giờ có được đa số tuyệt đối ở Nghị viện với một chương trình quốc hữu hóa toàn bộ nền kinh tế. Và ngay cả khi người ta có được một đa số như thế và thử đem áp dụng chương trình ấy thì người ta sẽ chỉ gây ra một cuộc nội chiến. Lúc đó Lenin đã chọn một chiến lược khác với những người cầm đầu Quốc tế II. Ông đã hiểu rằng không thể chỉ phó thác cho riêng giai cấp công nhân thực hiện việc đoạn tuyệt với CNTB, mà cần phải có một đảng của những người giác ngộ hệ tư tưởng khoa học để đi tới mục đích đó. Và một mục đích như thế, được thực hiện bởi một đảng như thế, đó là đỉnh điểm của chủ nghĩa không tưởng.

Nhưng trong thực tiễn những phương tiện Leninnit không đem lại những kết quả giải phóng đã trù tính trước : trái lại chúng dẫn đến sự cưỡng bức thường xuyên. Và sự cưỡng bức ấy buộc phải là thường xuyên vì thị trường và sở hữu tư nhân có xu hướng quay trở lại không thể cưỡng được. Như thế Đảng phải nắm chính quyền mãi mãi. Lenin tin như đinh đóng cột vào nguyên tắc này : đối với ông, cho phép người nông dân trao đổi, đó chính là tái sản sinh ra CNTB, một điều thật đáng sợ, dường như những người nông dân nghèo là những con « cá mập » của phố Wall.

Tuân theo lập luận mang tính hệ tư tưởng đó, từ 1933 – 1934 Đảng đã thực tế xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân, lợi nhuận thị trường. Kể từ những ngày đó, hạ tầng cơ sở không thay đổi. Cả Stalin lẫn Khrushev và Breznhev không ai có nhu cầu phải tin một cách tích cực vào ý thức hệ : hệ thống tư tưởng trị đã đứng vững và từ đây nó tự mình vận hành độc lập. Chính theo nghĩa này mà hệ thống vẫn mang tính tư tưởng tri cho đến giây phút cuối cùng của nó.

(còn tiếp)

Người dịch: Đỗ Tiến Đạt

Hiệu đính: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Martin Malia – L’écroulement du totalitarism en Russie, « L’Express » No 4, 1996, p40 – 53.

TĐB 96 – 18

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s