Vấn đề phức tạp hơn nhiều so với thoạt tiên chúng ta tưởng. Ở đây chúng ta đang phải đối mặt với sự thao túng dư luận xã hội một cách có chủ tâm, thông qua sự dối trá thông thường được ngụy trang bằng những phân tích của giới chuyên môn. Họ làm vậy với mục đích sao cho cả các chính khách lẫn dân chúng phải luôn ở trạng thái hoảng hốt và sợ hãi. Khi đó mọi người sẽ dễ dàng uống những viên thuốc đắng và đầu tiên là mua xăng với giá nửa USD một lít, sau đó là 2 USD hay chi một khoản tiền lớn cho việc dùng khí đốt và điện năng. Cũng có thể đổ tội cho người Trung Quốc, rằng họ mua ngày càng nhiều nguyên liệu, khiến nhu cầu và giá cả gia tăng. Nhưng những ai có lý trí đều biết rằng, họ không phải là thủ phạm gây nên tình trạng gia tăng giá cả do khan hiếm hàng, mà chỉ là một trong số những nạn nhân của tình trạng này, bởi họ cũng phải mua đắt như người khác.

Cuộc chơi sẽ tiếp tục diễn ra. Những công ty xuyên quốc gia khổng lồ của những tổ hợp năng lượng sẽ tiếp tục mua chuộc các chính khách, còn các chính khách với sự hy sinh xứng đáng vì sự nghiệp lớn lại tìm cách thao túng các công ty này. Cả hai kẻ sẽ ra tay hù dọa người tiêu dùng, sử dụng các phương tiện truyền thông cho mục đích này. Chỉ cần công bố những kết quả phân tích giả danh chuyên môn và những tuyên bố sặc mùi chính trị, là giới báo chí nhảy vô và làm tất cả những việc còn lại. Làm rùm beng, cái học cần và theo như họ muốn.

Như thường lệ, các chính khách trong trường hợp này là quan tòa và kẻ hành hình của quan tòa. Các chính khách cố gắng thực thi pháp luật, bản thân rất dễ trở thành nạn nhân của hành động của mình. Khi phân xử một cách không công bằng, tuy nhiên bản án đã công bố và cần phải thực hiện nó. Do vậy đôi khi vẫn xảy ra những chuyện mất đầu về mặt chính trị. Năng lượng và các khu vực lân cận, bên cạnh sự an ninh và tài chính là mảnh đất nguy hiểm nhất mang tính chính trị, cả về góc độ nền kinh tế quốc dân cũng như trong tổng quan toàn cầu. Không chỉ có một điều thiện và ác sinh ra trên mảnh đất này, mà còn nhiều. Nó là như vậy và vẫn sẽ như vậy.

Nếu như gần đây một công ty tư vấn có uy tín trong ngành năng lượng có công bố một dự báo rằng, đỉnh điểm của khai thác dầu mỏ rơi vào năm 2005, thì khi nhìn vào những dấu hiệu của trời và đất họ biết rằng điều đó là bậy bạ. Tuy nhiên, họ đã có đơn đặt hàng cho những điều dối trá ấy, bởi lẽ những “dự báo” kiểu như thế phục vụ một cách hoàn hảo nhằm duy trì cơn sốt thị trường và đẩy giá leo thang. Trong khi ở thái cực kia của sự phóng đại, các chuyên gia khác khẳng định rằng đỉnh điểm của khai thác dầu sẽ không bao giờ xuất hiện, có nghĩa là nếu như không tăng thì chí ít cũng giữ nguyên được mức khai thác và tiêu thụ – như đến thời điểm này – mãi mãi – thì cũng là dối trá.

Tất cả những gì mà chúng ta biết chỉ ra rằng, trong thế kỷ này sẽ xuất hiện cái gọi là đỉnh điểm dầu mỏ, tức là tình trạng mà sau đó lượng dầu khai thác sẽ chỉ có đi xuống. Trong số những chuyên gia giàu kinh nghiệm, ý kiến về thời điểm xuất hiện đỉnh điểm đó cũng còn khác nhau. Khả năng được nói đến nhiều nhất là quãng thời gian từ 2020 đến 2040. Nhưng cứ như thể là ngay ngày mai! Dựa trên các phân tích đa phương án, mới nhất là báo cáo trình Quốc hội Mỹ (được nhiều người coi là nguồn độc lập) của General Accountability Office gợi ý rằng, đỉnh điểm đó có thể xuất hiện hàng năm kể từ nay đến năm 2040.

Sự không chắc chắn về thời gian xuất hiện đỉnh điểm xuất phát từ việc khó có thể đánh giá tính xác thực của các dự đoán đang được quan tâm. Nhữn chuyên gia am hiểu vấn đề cảnh báo rằng, những quyền lợi cá nhân của các nhà sản xuất và phân phối có thể làm méo mó những đánh giá về trữ lượng hiện có và trong tương lai của các nguồn khoáng sản. Cần lưu tâm tới những áp lực mang tính chính trị cũng như sự chưa khám phá hết bản chất địa chất của nguồn khoáng sản. Ngoài ra, những thông tin lạc quan về các mỏ khoáng sản mới với trữ lượng lớn bất ngờ xuất hiện, ví dụ như gần đây ở Ghana và Brazil. Ở đây còn nhiều ẩn số. Những nhiễu loạn chính trị có thể khiến cho các vấn đề ở đây trở nên phức tạp như thế nào, hiện nay chúng ta có thể nhìn thấy từ những điển hình như ở Iraq, hay trong cơn lốc thuộc vùng châu thổ Niger, hay tình hình bị thả nổi ở Sudan. Hôm nay ở chỗ này, mai sẽ ở đâu đó khác.

Có một điều mà chúng ta biết chắc, đó là khi nào việc khai thác dầu mỏ bắt đầu giảm sút phụ thuộc vào một số bối cảnh. Chúng ta cũng biết những bối cảnh đó là gì, có thể kể ra là không chỉ sự tiếp cận về mặt cơ học và về mặt chính trị tới các khu mỏ cùng với những lợi nhuận do việc khai thác mang lại, mà còn việc nhanh chóng tiếp cận với công nghệ không dựa trên việc sử dụng dầu mỏ và các sản phẩm cùng loại và phạm vi tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng. Không nên có ảo tưởng rằng, trên lĩnh vực những tiến bộ đã đạt được hiện nay là đủ, bởi mặc dù trong vòng một phần ba thế kỷ qua tại các nước giàu có G7, là những nước tiêu thụ nhiều năng lượng nhất, mức tiêu thụ dầu mỏ tính trên một đơn vị thu nhập quốc dân tạo ra đã giảm 55%, thì tổng thu nhập này trên phạm vi thế giới tăng nhanh đến mức, phải tiếp tục giảm con số tiêu thụ năng lượng đơn vị thêm vài chục lần nữa mới có thể giải quyết được vấn đề. Mà điều này sẽ không thành hiện thực.

Bóng ma của một thảm họa đang bay lơ lửng trên đầu thế giới – bóng ma của thảm họa trái đất nóng lên. Đến lúc này mới thấy rằng bắt buộc phải thay đổi những giá trị về mặt chính trị và gia tăng mối quan tâm tới việc tìm kiếm những biện pháp hoàn toàn khác để đáp ứng nhu cầu năng lượng của loài người. Đến bao giờ nước Mỹ giàu có mới học được ở nước Brazil nghèo khổ rằng, giải quyết vấn đề năng lượng trên phạm vi rộng lớn có thể dựa trên việc khai thác nhiên liệu sinh học. Vấn đề xem ra rất lạc quan, khi nguyên liệu cho nhiên liệu sinh học – ngô, mía, củ cải dầu – là những thứ tái tạo được. Vâng, củ cải đường truyền thống của chúng ta (chúng ta lại gặp may!), mà chúng ta đã từng sử dụng chúng trong việc xóa bỏ một thứ đáng ghê tởm khác – chế độ nô lệ. Nhưng sự gia tăng đột biến về nhu cầu nông sản này đã gây nên áp lực về giá đối với các sản phẩm lương thực được chế biến từ chúng. Như vậy, trong tương lai lương thực sẽ tăng giá nhanh hơn nhiên liệu lỏng; đã diễn ra như vậy. Và sẽ diễn ra như vậy, bởi nhiều sự việc diễn ra cùng lúc.

Những nguồn năng lượng mang tính đặc thù, nhất là thủy điện, phong điện và nguồn năng lượng có tiềm năng lớn nhất – năng lượng mặt trời tuy còn ít hứa hẹn hơn, nhưng bù lại lại thân thiện với môi trường. Từ thực tế có thể nói rằng, nguồn cung của những nguồn năng lượng có vẻ như rẻ tiền không xuất hiện ở những nơi có nhu cầu tiêu thụ cao nhất. Những con sông chảy như thác, thủy triều lên và xuống, những vùng có gió mạnh và liên tục thường có ở những vùng xa với những đô thị lớn hay những trung tâm công nghiệp. Bầu trời lúc nào cũng trong xanh với những tia nắng mặt trời chói chang là đặc trưng của vùng biển Địa Trung Hải, Biển Caribean hay vịch Persian, ở đó nhu cầu về năng lượng để sưởi ấm là không đáng kể so với vùng Biển Baltic, vùng vịnh Hudson hay Biển Nhật Bản. Để năng lượng từ những nguồn đó phát triển rộng rãi, thì phải rẻ trên phạm vi rộng lớn và bù cho những chi phí truyền tải. Điều này sẽ trở thành hiện thực ở mức độ như thế nào, tương lai sẽ trả lời. Trong lĩnh vực này có thể có những bước tiến nhảy vọt hay không, chúng ta có thể lấy ví dụ về năng lượng gió. Chi phí để có 1 kW/giờ đã giảm từ 2 USD trong năm 1970 xuống còn 5 – 8 cents hiện nay.

Về năng lượng nguyên tử, thì ở California nhanh hơn ở các vùng đồng bằng Đông Âu. Ở quy mô rộng lớn, có thể thật sự tiếp cận được ở mọi nơi, và nguồn nguyên liệu cần thiết để sản xuất chắc chắn là đủ cho nhiều thế kỷ. Và đây cũng là nguồn năng lượng đủ an toàn. Từ lâu nó đã là nguồn năng lượng rẻ, sạch và cũng an toàn hơn so với nguồn năng lượng gây ô nhiễm từ việc đốt than và một số loại dầu mỏ.

Tuy nhiên, nỗi sợ hãi phi lý đối với năng lượng nguyên tử đã khiến nó bị ghét bỏ. Đấy là một ví dụ điển hình về việc không chơi cùng sân của kỹ thuật, văn hóa và chính trị. Vậy nên cần phải có sự đồng bộ, mà vấn đề này cũng đòi hỏi đến một vài chục năm. Nhân loại đã sẵn sàng cho việc này chưa? Tuyệt nhiên chưa! Và việc làm dịu bớt cuộc đại khủng hoảng năng lượng đòi hỏi vài thập niên tiến hành những giải pháp đồng bộ, tốn kém và đầy khó khăn trên nhiều công đoạn khác nhau. Rồi sau này mọi người sẽ lại ngạc nhiên, tại sao mọi chuyện lại có thể như vậy được và tại sao những việc hiển nhiên như thế lại phải mất nhiều công sức đến thế để vượt qua.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s