Mặc dù không có sự phân loại các chế độ độc tài được hầu hết mọi người chấp nhận, nhưng các học giả thường phân biệt giữa chế độ độc tài cá nhân (kế thừa hay bảo hoàng) với chế độ độc tài quân sự và chế độ độc tài do đảng lãnh đạo. Triều đại nhà Kim chắc chắn rơi vào kiểu đầu tiên. Ở mọi kiểu chế độ độc tài, cách phổ biến nhất mà theo đó các nhà lãnh đạo chế độ bị phế truất, cho đến tương đối gần đây, là thông qua một cuộc đảo chính. Chẳng hạn như, trong những năm 1960 và 1970, gần như 50% các nhà độc tài bị mất quyền lực do một cuộc đảo chính quân sự. Tuy nhiên, từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, số lượng các nhà độc tài bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính đã giảm đáng kể, trong khi đồng thời số lượng các chế độ độc tài bị chấm dứt bởi một cuộc nổi dậy của dân chúng lại tăng lên. Trong trường hợp Triều Tiên, khả năng một cuộc nổi dậy của dân chúng từ dưới lên dường như rất thấp, chắc chắn là thấp hơn hai con đường rộng lớn khác dẫn đến sự thay đổi chính trị. Ngoài cái có vẻ là một mức độ cao một cách khác thường sự cố kết xã hội và sự bền bỉ khi đương đầu với nghịch cảnh, Triều Tiên không có điểm gì giống với các tổ chức và mạng lưới xã hội dân sự mà ở đó sự phản đối của dân chúng có thể hợp nhất và lan truyền. Ở những nước khác, các công đoàn, nhà thờ, hội từ thiện và trường đại học điển hình là đáp ứng mục đích này khi huy động sự bất đồng quan điểm và thúc đẩy các cuộc nổi dậy của dân chúng, nhưng việc hầu như không có những thể chế như vậy ở Triều Tiên hạn chế các cơ hội tạo nên một phong trào phản đối khắp cả nước. Hơn nữa, cái do cộng đồng địa phương xây dựng nên mà thực sự tồn tại, như các ủy ban an ninh công cộng, đều nằm dưới sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan an ninh nhà nước. Dĩ nhiên, tất cả điều này hạn chế rất nhiều các cơ hội cho những thế lực bên ngoài nuôi dưỡng và ủng hộ các tổ chức xã hội dân sự ở Triều Tiên như một phần của một chiến lược rộng lớn hơn nhằm thúc đẩy sự thay đổi chính trị. Số lượng có hạn điện thoại di động ở Triều Tiên cũng như việc các phương tiện Internet và truyền thông xã hội bị hạn chế nhiều làm giảm hơn nữa triển vọng cho sự huy động chính trị trong nước, chắc chắn theo kiểu mà đã tỏ ra rất có hiệu quả trong phong trào Mùa xuân Arập. Vì lý do tương tự, cơ hội cho các bên tham gia bên ngoài tránh được sự kiểm duyệt của nhà nước nhằm gia tăng sự hiểu biết cho dân chúng về thế giới bên ngoài và có khả năng kích động sự náo loạn là cực kỳ hạn chế, mặc dù văn hóa đại chúng và các nguồn thông tin khác từ Hàn Quốc và Trung Quốc dường như cũng đang tiến hành một số cuộc xâm nhập. Tương tự, tình trạng kém phát triển của giao thông cá nhân ở Triều Tiên hạn chế sự hòa nhập xã hội và cùng với nó là sự lan truyền và hợp nhất các ý kiến. Vì những lý do này, sự thay đổi từ trên xuống dưới như là kết quả của một thách thức giới lãnh đạo đối với chế độ Kim có vẻ như hợp lý hơn, cho dù ở đây một lần nữa điều quan trọng là phải thừa nhận sự bền bỉ đến phi thường của chế độ này, đã lèo lái thành công hai cuộc kế vị vương triều (từ nhà sáng lập ra nó, Kim Il Sung, đến con trai ông, Kim Jong Il, vào năm 1994, và rồi gần đây hơn là cháu trai của ông, Kim Jong Un, vào năm 2011). Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến sự bắt đầu của một cuộc đảo chính (tỷ lệ tử vong ở trẻ em thấp, tăng trưởng kinh tế kém, sự thiếu dân chủ hoặc dân chủ ở mức độ thấp) đã xuất hiện ở Triều Tiên, nhưng nhiều yếu tố khác (hoạt động đảo chính gần đây, các cuộc nổi dậy và nổi loạn của dân chúng trong khu vực, tính ổn định có hạn của chế độ, tình trạng nổi loạn hay cuộc vận động kháng cự trong dân chúng đang diễn ra) thì rõ ràng là không. Bằng chứng của việc gây bè kết phái gia tăng bên trong chế độ, mà thường là điềm báo căng thẳng nội bộ thực sự trong các trường hợp thay đổi chế độ trước đó, xem ra ít ỏi hoặc không tồn tại. Chắc chắn là, những cuộc thanh trừng nổi tiếng gần đây và sự biến mất bí ẩn của các quan chức cao cấp có thể cho thấy những áp lực hay căng thẳng gia tăng bên trong chế độ Triều Tiên, nhưng những sự việc như vậy hầu như không mới hay có sức thuyết phục để kết luận rằng một cái gì đó cơ bản có thể đang được chuẩn bị. Chúng đã xảy ra có chút đều đặn kể từ khi chế độ Kim được thành lập, đáng chú ý là vào những năm 1950 và cuối những năm 1960 bởi Kim Il Sung, và sau đó một lần nữa vào những năm 1990 với sự quá độ sang Kim Jong Il. Quả thực, thay vì là một dấu hiệu của sự sụp đổ, chúng thường phản ánh các nỗ lực thực thi kỷ luật và củng cố quyền lực bằng việc đặt một nhóm các sĩ quan và quan chức trung thành vào các vị trí cao cấp. Đồng thời, không có các dấu hiệu bên ngoài của sự ganh đua giữa các thực thể có tổ chức hay phe phái khác nhau bên trong giới tinh hoa Bình Nhưỡng. Một nỗ lực ám sát và đảo chính do một nhóm sĩ quan quân đội hay bè đảng bên trong các lực lượng an ninh dẫn đầu – một khởi nguồn khác của sự thay đổi chế độ từ trên xuống dưới ở các nước khác, đặc biệt là các nước ở châu Phi – chắc chắn là điều dễ hiểu, nhưng ngoại trừ một sự việc được đưa tin vào những năm 1990, thì không có lý do gì để tin rằng Triều Tiên đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi kiểu bất ổn này.

Còn lại con đường thứ ba – sự bất ổn và thay đổi chế độ do các yếu tố bên ngoài gây ra. Do sự yếu kém chung của nền kinh tế Triều Tiên, các biện pháp trừng phạt và những hạn chế thương mại hơn nữa xem ra sẽ mang lại chiến lược tốt nhất để gây nên sự thay đổi chính trị. Nhu cầu từ phía Trung Quốc đối với các nguyên liệu thô của Triều Tiên, cụ thể là than và quặng sắt, giảm kết hợp với tình trạng trì trệ của giá hàng hóa trên toàn thế giới rõ ràng là đang gây nên một sự suy thoái về kinh tế sau một vài năm tăng trưởng liên tục. Sự đóng cửa khu công nghiệp liên doanh Triều – Hàn Kaesong mà ước tính đã mang lại cho Bình Nhưỡng giá trị tương đương khoảng 100 triệu USD hàng năm là một cú đòn khác. Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nhấn mạnh rằng tính dễ tổn thương của chế độ Triều Tiên trước sự ép buộc hơn nữa về kinh tế cuối cùng lại phụ thuộc vào việc Trung Quốc có sẵn sàng để điều đó xảy ra hay không. Cho đến nay, bằng chứng cho thấy Trung Quốc muốn gây đủ áp lực cho Triều Tiên để kiềm chế chương trình vũ khí hạt nhân và hành vi khiêu khích khác của nước này nhưng không nhiều đến mức gây nên sự bất ổn chính trị nghiêm trọng mà có thể gây nguy hiểm cho chính sự tồn tại của nước này và mang lại cùng với nó mọi loại ảnh hưởng lan tràn có hại. Đôi lúc cũng có phán đoán cho rằng Trung Quốc có thể sắp đặt một cuộc đảo chính quân sự hoặc một kiểu thay đổi giới lãnh đạo khác ở Bình Nhưỡng không chỉ để thiết lập một chế độ có lợi hơn cho các lợi ích của mình mà còn để ngăn chặn trước kiểu bất ổn nước này lo sợ nhất. Tuy nhiên, khả năng Bắc Kinh dàn xếp sự thay đổi như vậy phải được đặt thành vấn đề, đặc biệt vì nước này chưa từng tiến hành một hoạt động như vậy. Điều cũng không rõ ràng là nước này thực sự có bao nhiêu cơ hội để xúi bẩy và lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính của các quan chức quân đội và chính trị cao cấp ở Bình Nhưỡng, do các cuộc tiếp xúc chính thức giữa hai nước đã giảm trong những năm gần đây.

Cuối cùng, có khả năng chế độ Kim sẽ bị xóa bỏ bởi sự can thiệp quân sự ở bên ngoài. Như đã trình bày trước đó, khả năng một chiến dịch có suy tính trước kiểu này do Mỹ và Hàn Quốc thực hiện có vẻ như rất xa vời, do các chi phí và nguy cơ lường trước được, mà đang gia tăng vì Triều Tiên phát triển các năng lực trả đũa tên lửa hạt nhân và đạn đạo của mình. Triều Tiên sẽ phải gây ra một mối đe dọa rất nghiêm trọng để một cuộc tấn công như vậy được cân nhắc một cách hợp lý. Điều dễ hiểu hơn là một sự khiêu khích của Triều Tiên hay một cuộc tấn công của quân đội Mỹ “đánh vào mục tiêu chính đáng” được thiết kế nhằm phá hoại chương trình hạt nhân hay tên lửa của nước này leo thang theo cái cách mà dẫn đến một sự tái diễn trên quy mô đầy đủ các hành động thù địch. Một kịch bản như vậy hầu như chắc chắn sẽ dẫn đến một cuộc xâm lược ồ ạt Triều Tiên và cuối cùng là sự lật đổ chế độ Kim. Sự can thiệp quân sự cũng có thể diễn ra nhằm đối phó với một thảm họa nhân đạo lớn hoặc tình trạng rối loạn lan tràn trong dân chúng, nhưng ở đây một lần nữa tính chất của mối đe dọa sẽ phải là rất nghiêm trọng để có thể vượt qua những quan ngại về các nguy cơ của sự can thiệp.

(còn tiếp) 

Nguồn: Viện Mỹ – Triều tại SAIS – tháng 12/2016

TLTKĐB – 09/01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s