Śãlistamba Sũtra (Đại thừa đạo can kinh) ghi: “Thấy được lý duyên khởi (Pratĩyassa-mutpãda) là thấy Phật, thấy Phật là thấy pháp”. Nãgãrjuna, trong Mãdhyamaka Kãrikã (Trung luận kệ tụng), nói: “Hễ thấu hiểu được lý duyên khởi thì liễu ngộ được Tứ thánh đế: Khổ, Tập, Diệt, Đạo”. Phật giáo vẫn luôn là một học thuyết về Pháp hay Pháp luận [Dharma-Theory] dựa trên lý duyên hởi, và mọi hệt thống Phật học đều tự xem mình là Trung đạo. Tuy thế, lý duyên khởi được giải thích khác nhau tại những thời điểm khác nhau. Hệ thống Ãbhidharmika của Phật giáo nguyên thủy xem lý duyên khởi như là Tự Ngã thường hằng bất biến, hay là bản chất, và xác lập tức thì thực thể của từng pháp riêng biệt. Lý duyên khởi được xem là quy luật nhân quả điều phối sự sinh diệt của các pháp (Dharma-sanketa). Trung đạo loại bỏ Thường kiến lẫn Đoạn kiến (uccheda-vãda). Trung quán tông khẳng định rằng đó không phải là các kiến giải đúng đắn về học thuyết này. Lý duyên khởi không phải là nguyên lý về sự nối tiếp nhân quả theo thứ tự thời gian, mà là sự hỗ tương tồn tại tất yếu giữa vạn pháp, nghĩa là các pháp nương vào nhau để tồn tại, chúng đều không có thực tại tính, tức vô tự tính (naissvãbhãvya); hay còn gọi là pháp vô ngã (dharma-nairãtmya). Toàn bộ hệ thống triết học của Trung quán tông là sự giải thích lại lý duyên khởi. GIờ đây, nó được xem như tương đồng với Tánh Không (Śũnyatã) – nghĩa là thể nghiệm hữu hiệu tính tương đối của sự vật, và bất thực tại tính tối hậu [ultimate unreality] của chúng. Trung đạo phủ nhận các cực đoan khẳng định lẫn phủ định của mọi quan điểm, (giữa Hữu phi Hữu, giữa sat và asat). Vijňãnavãda chấp nhận Tánh Không, nhưng lại kiểu chính và sửa đổi. Quan điểm của Vijňãnavãda là: Thức có thực, nhưng hết thảy hiện tượng do thức biến hiện đều không thực. Trung đạo tránh cả tính giáo điều cực đoan của thực tại luận (cho rằng vạn pháp có tự tính) lẫn sự hoài nghi của Hư vô luận (cho rằng tâm và vật đều không thực). Đọc kinh sách nói về sự chuyển biến của tư tưởng Phật giáo một cách nổi lên như là sự phê phán các tông phái Ãbhidharmika, vốn là các tông phái phát triển bằng cách phủ nhận thuyết “hữu ngã” của Bà la môn giáo. Trung quán tông phê phán vô ngã luận (ãtma) lẫn hữu ngã luận (anãtma). Vị trí của Trung quán tông giống như vị trí của Kant trong triết học phương Tây. Các tác phẩm Phê phán của ông chủ yếu là phê phán thuyết kinh nghiệm, vốn phủ bác quan điểm của thuyết duy lý về nguồn gốc và phạm vi của nhận thức. Học thuyết duy tâm của Yogãcãra nhờ có học thuyết về Tánh Không của Trung quán tông mà thành hình, cũng như học thuyết duy tâm của Hegel phải nhờ các tác phẩm Phê phán của Kant mới hiểu được chức năng của lý tính.

Có thể nhận thấy được những bước khởi đầu của biện chứng pháp trong những bài thuyết giảng trực tiếp của Đức Phật. Ngài nêu ra một vài vấn đề không thể nào giải đáp hay diễn đạt được, gọi là avyãkrta (vô ký). Đây có thể xem là thuyết bất khả tri của Đức Phật. Giáo pháp của Đức Phật tự bản chất luôn mang tính phê phán. Ngày thấu hiểu đặc tính mâu thuẫn của lý tính. Ngài từ chối trả lời những câu hỏi về nguồn gốc và biên tế của thế giới, về sự hiện hữu của linh hồn, hay Như Lai có tái sinh hay không… Sự từ chối đó là kết quả của sự liễu ngộ về bản chất luôn xung đột của lý tính. Đức Phật có vinh dự được xem là người đầu tiên đưa ra biện chứng pháp, trước cả Zeno ở phương Tây rất lâu. Biện chứng pháp, như sẽ trình bày ở phần sau, là ý thức về toàn bộ xung đột bất tận của lý tính, và nỗ lực giải quyết xung đột đó bằng cách nâng lên một tầng nhận thức cao hơn. Trong sự xung đột đó, có ít nhất là hai luận chấp hay kiến giải chính có thể chuyển hóa cho nhau, hai kiến giải này hoàn toàn đối lập nhau để đưa đến những giải pháp liên quan đến sự tồn tại và giá trị. Hai kiến giải đối lập nhau đó là học thuyết hữu ngã và vô ngã luận, giống như sự đối lập giữa thuyết duy lý và thuyết kinh nghiệm thời trước Kant.

Nơi Đức Phật thì biện chứng pháp chỉ mới mang tính gợi ý, bởi vì sự xung đột giữa các kiến giải, vốn có thể làm phát sinh biện chứng pháp, vẫn chưa phát triển. Biện chứng pháp, trong hình thức hệ thống triết học, được tìm thấy nơi Trung quán tông: bởi vì lúc bấy giờ, các kiến giải khác biệt đã được nghiên cứu kỹ lưỡng và được định hình thành những hệ thống triết học chặt chẽ như Sãmkhya (Số luận) Vaiśeşika (Thắng luận), và Vaibhãşika (Tỳ bà sa bộ). Không còn nghi ngờ gì nữa, biện chứng pháp của Trung quán tông là hình thức được hệ thống hóa từ nhữn gợi mở nơi Đức Phật. Đức Phật giải quyết xxung đột bằng sự liễu ngộ mang tính trực giác về Thực Tướng như là cái Tuỵet đối phi nhị nguyên (advaya), còn Trung quán tông giải quyết xung đột bằng cách chuyển ngược lý tính về chính nó, thông qua biện chứng pháp.

Sự phát triển của Tuyệt đối luận trong kinh điển Veda đem đến cho chúng ta bước song hành gần gũi với truyền thống Hữu ngã. Các Upanişad (Áo nghĩa thư) khẳng định Brahman (Phạm thể) hay Tinh Thần Tuyệt Đối [Absolute Spirit] là thực thể duy nhất trong thế giới. Các học giả nghiên cứu Upanişad đạt đến Tuyệt đối luận này không phải bằng lý luận mà bằng thần cảm. Nội dung các Upanişad mang tính gợi mở nhiều hơn là một hệ thống lý luận. Tuyệt đối luận của Śankara (Thương Yết La) được xây dựng trên nền tảng của biện chứng pháp, bằng cách phê phán học thuyết Sãmkhya, phê phán học thuyết Vedãnta có trước đó, cùng các hệ thống triết học khác. Rõ ràng, các kỹ xảo biện chứng pháp của Vedãnta đã được vay mượn từ Trung quán tông.

Một hệ thống triết học làm phát sinh được cuộc cách mạng như thế trong triết học và tôn giáo Ấn Độ, hệ thống triết học đó xứng đáng được nghiên cứu với nhiều sự cảm thông và chú tâm hơn trước đây. Một số các nhà phê bình và sử gia thường có xu hướng bỏ qua triết học Vedãnta. Sự phê phán như thế chứng tỏ sự thiếu hiểu biết và lầm lạc. Các trang tiếp theo đây là nỗ lực nghiên cứu hệ thống triết học Trung quán tông trong mọi khía cạnh: lịch sử, phân tích và đối chiếu. Điều này có thể làm sáng tỏ sự chuyển biến của triết học Ấn Độ, đặc biệt là xu hướng nhất nguyên. Công trình nghiên cứu Trung quán tông có thể chứng minh được giá trị về bản chất, bởi vì nó là sự phê phán đối với mọi nền triết học.

II/ Hai truyền thống trong triết học Ấn Độ – đặc điểm chung

Có hai trào lưu chính trong Ấn Độ, – một bắt nguồn từ Hữu ngã luận của Upanişad, một bắt nguồn từ Vô ngã luận của Đức Phật. Hai trào lưu này quan niẹm thực tại theo hai mô thức [pattern] khác biệt và đối lập nhau. Upanişad và các hệ thống triết học theo truyền thống Bà la mô quan niệm giữa cõi biến hóa vô thường của ngoại giới vẫn tồn tại một thực thể thường hằng bất biến theo mô thức của một linh hồn Tự ngã (ãtman); thực thể này không liên quan, hoặc rất ít liên quan, với ngoại giới. Hệ thống triết học này được gọi là Thực thể thực tại luận [Substance View of Reality] hay Hữu ngã luận (ãtman-vãda). Giống như Tuyệt đối luận của Vedãnta, triết học này, trong hình thức cực đoan của nó, phủ nhận thực tại tính của sự vật biến động vô thường trong thế giới hiện tượng, và xem đó là hư ảo. Phái Sãmkhya không đi xa như thế, nó vẫn có khuynh hướng thiên về bản thể thường hằng và phổ quát. Các tông phái Nyãyã-Vaiśeşika (Chính lý và Thắng luận), với quan điểm đa nguyên luận và kinh nghiệm luận, xem bản thể và mô thức là bình đẳng. Các hệ thống học thuyết này không chỉ chấp nhận Tự ngã, mà hơn thế nữa, chúng quan niệm mọi sự vật khác theo mô thức bản thể [substance-pattern]. Trong các hệ thống triết học đó, Tự ngã chính là cốt lõi của siêu hình học, của nhận thức luận và đạo đức học. Trong nhận thức luận, bản thể tạo nên sự hợp nhất và tích hợp cho kinh nghiệm; nó giải thích được bản chất của nhận thức, ký ức và nhân cách hay hơn các học thuyết khác. Triền phược trói buộc chỉ là sự mê muội về Tự ngã, hay là sự đồng hóa sai lầm giữa Tự ngã và Phi ngã (ãtmany anãtmadhyãsa). Còn giải thoát là sự biện bạch rạch ròi được hai thức trên.

Truyền thống vô ngã luận được Phật giáo trình bày qua sự phủ định Tự ngã và tất cả những gì nó bao hàm. Không có một thực thể bất biến trong sự vật, mà vạn hữu luôn lưu chuyển biến dịch, biến hóa vô thường. Sự tồn tại, dưới cái nhìn của Phật pháp, chỉ diễn ra trong từng sát na (kşaņika), duy nhất (svalakşana) và đơn nhất (dharmanãtra). Sự tồn tại đó không tương tục, rời rạc, và không mang tính phức tạp đa thủ. Bản thể của sự vật bị phủ nhận, xem như là tuồng ảo hóa, nó chỉ là một cấu trúc tư duy [Thought-Construction] được hình thành do tác động của Vô minh (avidyã). Điều này có thể xem như là cách nhìn sự vật theo dạng thức hay Dạng thức thực tại luận [Model View of Reality]. Các luận sư Phật giáo đã kết hợp nhận thức luận và đạo đức học với siêu hình học một cách hài hòa, trọn vẹn. Quan điểm đặc thù của họ về nhận thức và suy luận, cùng những học thuyết bổ sung về cấu trúc tinh thần hay biến kế sở chấp (vikalpa) đều là những hệ quả tất yếu từ sự phủ nhận bản thể. Người ta đã nỗ lực phi thường để kết hợp triết học này với giáo lý về Nghiệp và sự tái sinh. Vô minh – nguồn gốc của mọi phiền não khổ đau – là vọng chấp vào Tự ngã; và Trí tuệ hay Prajňã (Bát nhã) là sự nhổ trừ tận gốc vọng chấp này cùng những phiền não do nó gây ra.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s