III/ Các hậu quả có thể của sự thay đổi chế độ là gì?

Tiến trình thay đỏi chế độ ở Triều Tiên trên lý thuyết có thể diễn ra theo nhiều cách (tương đối hòa bình hay bằng vũ lực) trong một khoảng thời gian được rút ngắn hay kéo dài (nhiều ngày hay nhiều tuần so với nhiều tháng hay thậm chí nhiều năm) và có hay không sự can thiệp của các thế lực bên ngoài. Nó có thể mang lại các kết quả rất khác nhau (sự cai trị độc tài hơn nữa với việc Triều Tiên vẫn là một nước độc lập, hay một kiểu chính quyền quá độ nào đó mà dẫn đến sự tái thống nhất). Việc đánh giá khả năng của bất kỳ sự kết hợp nào những thứ trên đều bị phức tạp hóa bởi cái có thể coi là những yếu tố nguy cơ đặc biệt:

+ Người dân Triều Tiên phần lớn bị cách ly khỏi phần còn lại của thế giới suốt gần 70 năm trong khi cũng bị buộc phải ghi nhớ là luôn kính trọng và bảo vệ dòng họ Kim. Các chế độ độc tài cá nhân hóa cao tương tự đã tồn tại ở các nước khác, đáng chú ý là Albania và Romania, mà sau đó đã trải qua sự thay đổi chính trị nhanh chóng, nhưng Triều Tiên có thể được cho là rất riêng. Vì thế, điều rất không rõ ràng là người dân Triều Tiên sẽ phản ứng như thế nào trước triển vọng về sự thay đổi chính trị căn bản.

+ Triều Tiên cũng là một phần của một quốc gia bị chia cắt mà vẫn đang trong một cuộc đối đầu rất căng thẳng và được trang bị nhiều vũ khí với nửa kia của mình. Chính vì vậy, có một triển vọng mạnh mẽ cho sự leo thang quân sự và sự tái diễn chiến sự mở rộng. Nước Đức bị chia cắt trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh là một tiền lệ gần nhất, nhưng quyền tự do hành động quân sự của Đông Đức và Tây Đức bị kiềm chế hơn nhiều so với trường hợp Hàn Quốc và Triều Tiên hiện nay. Nói cách khác, nguy cơ leo thang là cao hơn.

+ Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, Triều Tiên sở hữu các vũ khí hạt nhân và các vũ khí hủy diệt hàng loạt khác, mà số phận của chúng sẽ là mối quan ngại tức thì trong các giai đoạn bất ổn sâu sắc và thay đổi chế độ. Những nước sở hữu cá vũ khí hạt nhân khác đã trải qua sự hỗn loạn về chính trị và thay đổi căn bản mà không phân tán hay sử dụng chúng, điều có thể mang lại một chút an ủi. Liên Xô đã trải qua một cuộc đảo chính vào tháng 8/1991 mà đẩy nhanh sự kết thúc về mặt chính trị của nước này vào cuối năm đó. Nam Phi dưới chế độ Apartheid cũng đã sở hữu một kho dự trữ hạt nhân nhỏ trong những năm 1980 khi nước này chịu áp lực gia tăng là phải cải cách. Gần đây hơn, Pakistan đã trải qua biến động chính trị lớn với tư cách là một nước được trang bị hạt nhân. Tuy nhiên, sự bảo đảm nhiều đến mức độ nào có thể có được từ những trường hợp này là điều còn phải tranh cãi. Không có lúc nào trong bất kỳ trường hợp nào ở trên nhà nước nằm dưới sự đe dọa can thiệp quân sự từ bên ngoài – tình huống bất ngờ có thể xảy ra mà chúng được phát triển để ngăn chặn – là điều có thể hiểu được trong trường hợp Triều Tiên.

Mặc dù Triều Tiên là một trường hợp đặc biệt vì những lý do này, nhưng vẫn có ích khi xem xét lại toàn bộ kinh nghiệm của các chế độ độc tài đã trải qua thay đổi chính trị lớn. Theo phân tích so sánh trên phạm vi rộng của các nhà khoa học chính trị Barbara Geddes, Joseph Wright và Erica Frantz, “trong gần 75 năm kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, chỉ có khoảng 45% những sự thay đổi lãnh đạo (ở các chế độ độc tài) dẫn đến sự thay đổi chế độ, và hơn một nửa sự sụp đổ chế độ là những sự quá độ từ chế độ độc tài này sang chế độ độc tài khác. Nói cách khác, chưa đến 1/4 những sự thay đổi lãnh đạo dẫn đến sự dân chủ hóa”. Hơn nữa, sự thay đổi chế độ ở các chế độ độc tài theo kiểu chủ nghĩa nhân vị có xu hướng xảy ra một cách mạnh mẽ; quả thực, đó là quy tắc. Gần như mọi sự quá độ từ sự cai trị theo chủ nghĩa nhân vị sang chế độ độc tài khác đều là bị ép buộc. Những kết quả này ít nhiều được ủng hộ bởi phân tích so sánh tương tự của Andrea Kendall-Taylor và Erica Frantz. Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng chỉ có 20% sự ra đi của các nhà lãnh đạo độc tài từ năm 1950 đến năm 2012 là dẫn đến chế độ dân chủ “nhấn mạnh sự bền bỉ của sự cai trị độc tài”. Phần lớn dường như phụ thuộc vào cái cách mà các nhà lãnh đạo độc tài bị hất cẳng: “Khi các nhà lãnh đạo bị hạ bệ trong cuộc nổi loạn… chế độ dân chủ theo sau đó trong 45% các trường hợp. Ngược lại, các cuộc đảo chính thành công chỉ dẫn đến chế độ dân chủ trong 10% các trường hợp”. Những nhận xét chung này gợi ý rằng chúng ta không nên cho rằng một sự thay đổi trong giới lãnh đạo Triều Tiên sẽ diễn ra một cách hòa bình hay rằng điều đó hiển nhiên sẽ dẫn đến một kết quả dân chủ và, cũng hiển nhiên, một Triều Tiên tái thống nhất. Trong trường hợp bất ổn chính trị nghiêm trọng, cho dù bị thúc đẩy bởi sự rối loạn trong dân chúng hay một thách thức giới lãnh đạo ở cấp cao nhất, khả năng về một phản ứng ngược lại mạnh mẽ của các lực lượng trung thành với chế độ có vẻ là cao. Dĩ nhiên, trường hợp ngoại lệ sẽ là liệu quân đội Triều Tiên và các lực lượng an ninh khác có quyết định chất dứt sự ủng hộ của họ đối với chế độ này hay không. Một sự đàn áp dữ dội một cuộc nổi dậy của dân chúng hay thách thức của một phe chống đối ở Triều Tiên có thể dẫn đến những yêu cầu trợ giúp từ bên ngoài, đặc biệt nếu người ta cảm thấy rằng những hành động của họ đã được khuyến khích hay có khả năng nhận được sự ủng hộ. Điều này đã xảy ra ở một vài trường hợp – chẳng hạn như trong các cuộc nổi dậy ở Tây Tạng (1959), Hungary (1956), miền Nam Iraq (1991), Libya (2011) và Syria (2011) – nhưng chỉ trong trường hợp Libya các yêu cầu này được đáp ứng với sự can thiệp từ bên ngoài. Theo sau đó trong tất cả các trường hợp khác là sự đàn áp đẫm máu của chế độ cầm quyền. Một sự đàn áp dữ dội, đặc biệt nếu kèm theo đó là các hành động tàn bạo hàng loạt, cũng sẽ gia tăng áp lực buộc các thế lực bên ngoài – đặc biệt là Hàn Quốc – phải can thiệp. Phần lớn rõ ràng là sẽ phụ thuộc vào độ chính xác và tính kịp thời của các báo cáo được gửi đi từ Triều Tiên cũng như vào việc liệu chế độ này có thể áp đặt trật tự ngay sau đó hay không. Sự rối loạn kéo dài sẽ gia tăng các cơ hội những dòng người tị nạn rời khỏi nước này, cho dù bất kỳ sự đánh giá nào về nguy cơ này cần phải lưu ý đến tình trạng thiếu hụt tương đối giao thông vận tải cá nhân và tình trạng canh phòng nghiêm ngặt các vùng biên giới của Triều Tiên. Lại phụ thuộc làn nữa vào khởi nguồn của sự bất ổn, có thể cũng có cả những cuộc đào ngũ và thậm chí là có thể hình dung được những khiêu khích quân sự nhằm xúi giục sự can thiệp của đại diện các phần tử chống chế độ. Nếu các thế lực bên ngoài thực sự can thiệp, thì không nên giả định rằng toàn bộ dân chúng sẽ chấp nhận một cách hòa bình sự thống trị “ngoại bang”, cho dù điều này được tuyên bố chỉ là tạm thời. Điều này có vẻ đúng đối với Hàn Quốc và đặc biệt đúng với các thế lực khác, thậm chí là đồng minh lâu năm Trung Quốc. Như một nhà phân tích người Nga về Triều Tiên đã nói:

“Thật ngây thơ khi hy vong rằng toàn bộ dân chúng Triều Tiên sẽ chào đón “sự giải phóng khỏi chế độ độc tài” mà sự thống nhất mang lại; một sự hy vọng như vậy đơn giản là không dựa trên phân tích nghiêm túc về cái mà các tầng lớp xã hội của Triều Tiên sẽ nhận được hay bị mất đi khi Hàn Quốc bắt đầu cai quản. Giới tinh hoa và tầng lớp trung lưu – có lẽ khoảng 1 triệu người hoặc khoảng 5% dân số, bao gồm các thành viên của đảng, bộ máy an ninh, quân đội và một phần đáng kể những người ủng hộ và gia đình đã bị tẩy não của họ – sẽ không có chiến lược lối thoát nào và không có địa vị nào trên bán đảo Triều Tiên do Hàn Quốc kiểm soát. Hơn nữa, họ có thể khá là chắc chắn về các hậu quả sẽ phải chịu bởi vai trò của họ trong chế độ trước. Nếu ngay cả một phần của nhóm này (bao gồm những nhân viên được đào tạo) sử dụng đến kháng cự có vũ trang, thì các kết quả có thể sẽ thảm khốc. Đây không phải là sự suy đoán: chế độ này đã dành hàng thập niên chuẩn bị cho cuộc chiến tranh du kích, và nó có thể còn có một mạng lưới các cơ sở được trang bị đầy đủ được che giấu khắp lãnh thổ nước này để những chiến binh tận tụy sử dụng”.

Kinh nghiệm gần đây của Mỹ ở Afghanistan và Iraq chắc chắn ủng hộ cho lập luận này.

IV/ Những nhận xét mang tính kết luận

Việc đánh giá nguy cơ sơ bộ các triển vọng và hệ quả có thể có của sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên nà khiến chúng ta phải đặt câu hỏi về các giả định và kỳ vọng của mình về việc những sự kiện như vậy có thể xảy ra khi nào và như thế nào và điều gì có thể xảy ra sau đó. Cụ thể hơn, như tục ngữ có câu, “chúng ta cần cẩn trọng với những gì mà chúng ta mong muốn”. Sự bất ổn và thay đổi chế độ có thể, vì nhiều lý do, kéo theo đó tình trạng bạo lực đáng kể và thậm chí là nội chiến. Nó cũng có thể khởi động một loạt tình huống bất ngờ nguy hiểm khác, bao gồm một cuộc xung đột rộng hơn lôi kéo các thế lực bên ngoài. Tiến trình thay đổi được mong đợi ở Triều Tiên – về bản chất là một sự sụp đổ nhanh chóng và tương đối hòa bình của chế độ hiện thời theo sau đó là một sự quá độ khá suôn sẻ sang sự tái thống nhất – không nên được giả định trước. Tiền lệ nước Đức ở nhiều khía cạnh là một ví dụ gây hiểu lầm của cái hợp lý để mong chờ. Tất cả điều này có nghĩa là điều mà có vẻ là những lựa chọn tương đối an toàn để thúc đẩy sự thay đổi chế độ ở Triều Tiên cần được xem xét kỹ lưỡng với sự cẩn trọng tối đa. Nếu những trải nghiệm của Mỹ gần đầy ở Afghanistan, Iraq và Libya đã dạy cho chúng ta điều gì đó, thì đó là cần phải hết sức cẩn trọng khi phỏng đoán về cái mà “ngày sau đó” ở Triều Tiên sẽ mang lại.

Nguồn: Viện Mỹ – Triều tại SAIS – tháng 12/2016

TLTKĐB – 09/01/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s