Định nghĩa “lời kẻ khác”

“Lời kẻ khác” – đó là lời trong lời, phát ngôn trong phát ngôn, nhưng đồng thời, đó cũng là lời về lời, phát ngôn về phát ngôn.

Tất cả những gì mà chúng ta nói đến chỉ là nội dung của lời nói, là chủ đề của các từ chúng ta dùng. Ví dụ cho chủ đề – và đơn thuần là chủ đề – có thể là “thiên nhiên”, “con người”, “mệnh đề phụ” (một chủ đề của cú pháp học): nhưng phát ngôn của kẻ khác không chỉ là chủ đề của lời nói: nó có thể thâm nhập vào lời nói và cấu trúc cú pháp của nó, ta có thể nói vậy, như là một yếu tố cấu thành đặc biệt. Trong quá trình đó, lời kẻ khác vẫn giữ nguyên cấu trúc và tính độc lập ngữ nghĩa của mìnhh, nhưng cũng không phá hủy lớp sợi ngôn từ của bối cảnh tiếp nhận nó.

Hơn nữa, phát ngôn của người khác, một khi vẫn đơn thuần là chủ đề của lời nói, chỉ có thể được mô tả bề ngoài. Muốn thâm nhập vào nội dung đầy đủ của nó, cần phải đưa nó vào cấu trúc của lời nói. Khi vẫn còn bị giới hạn trong việc mô tả chủ đề của lời kẻ khác, ta có thể trả lời các câu hỏi: Ông N nói “như thế nào” và “về cái gì”, nhưng câu hỏi ông ta nói “cái gì” chỉ có thể có câu trả lời bằng cách truyền đạt lại các từ của ông ta, ít nhất là bằng lời nói gián tiếp.

Nhưng, khi thâm nhập trọn vẹn vào lời nói của tác giả, trở thành một yếu tố cấu thành của nó, phát ngôn của kẻ khác đồng thời cũng là chủ đề của lời tác giả. Nó thâm nhập vào sự thống nhất chủ đề của lời tác giả, đích thị với tư cách một phát ngôn của kẻ khác, còn chủ thể độc lập của nó thì thâm nhập như là chủ đề của chủ đề của lời kẻ khác.

Trong suy nghĩ của người nói, lời kẻ khác được nhìn nhận như là phát ngôn của một chủ thể khác, ban đầu hoàn toàn độc lập, hoàn chỉnh về cấu trúc, và nằm ngoái bối cảnh đã cho. Chính từ sự tồn tại độc lập đó, lời kẻ khác được di chuyển vào bối cảnh của tác giả, nhưng vẫn giữ nguyên nội dung khách thể của nó và chí ít là những nét cơ bản nhất của tính toàn vẹn ngôn ngữ và tính độc lập cấu trúc ban đầu. Phát ngôn của tác giả, khi tiếp nhận một phát ngôn khác vào thành phần của nó, sẽ tạo ra những quy tắc cú pháp, phong cách và kết cấu để đồng hóa nó một phần, để làm cho nó phù hợp với sự thống nhất cú pháp, kết cấu và phong cách của phát ngôn của tác giả, đồng thời vẫn giữ nguyên, ít nhất là ở dạng thô sơ, tính độc lập ban đầu (về cú pháp, kết cấu, phong cách) của phát ngôn của kẻ khác, điều không thể thiếu để nắm bắt nó.

Trong các ngôn ngữ hiện đại, một số biến thể của lời nói gián tiếp, và đặc biệt là lời nói cận trực tiếp, có xu hướng di chuyển phát ngôn của người khác từ lĩnh vực cấu trúc lời nói sang bình diện chủ đề, sang nội dung. Tuy vậy, ngay cả ở đây, sự hòa tan lời kẻ khác vào bối cảnh của tác giả cũng không hoàn thành, và không thể hoàn thành triệt để. Bên cạnh những chỉ dấu ngữ nghĩa, phát ngôn của kẻ khác vẫn còn giữ nguyên tính thống nhất về cấu trúc, vẫn được cảm nhận như là một chỉnh thể đầy đủ.

Như vậy, trong các hình thức truyền đạt lời kẻ khác, mối quan hệ tích cực của một phát ngôn với một phát ngôn khác được thể hiện, và phải nói thêm, thể hiện không phải ở bình diện chủ đề, mà dưới các hình thức cấu trúc ổn định của bản thân ngôn ngữ.

Chúng ta đang đứng trước hiện tượng từ phản ứng lại từ, nhưng khác hẳn đối thoại về hình thức và bản chất. Trong đối thoại, những lời đối đáp không liên hệ về mặt ngữ pháp và không được tích hợp vào một bối cảnh duy nhất. Bởi lẽ không có các hình thức cú pháp để tạo nên tính thống nhất của cuộc đối thoại. Nếu như cuộc đối thoại được đưa ra trong một bối cảnh tác giả bao trùm nó, chúng ta đứng trước một trường hợp của lời nói trực tiếp, nghĩa là, một trong các dạng của hiện tượng đang được chúng ta nghiên cứu.

Vấn đề tiếp nhận tích cực lời kẻ khác trong mối quan hệ với vấn đề đối thoại

Vấn đề đối thoại bắt đầu thu hút ngày càng nhiều sự chú ý của các nhà ngôn ngữ học, và đôi khi thậm chí trở thành tâm điểm của những mối quan tâm ngôn ngữ học. Điều này hoàn toàn dễ hiểu: bởi lẽ, đơn vị thực sự của lời nói (Sprache als Rede), như chúng ta đã biết, không phải là các phát ngôn độc thoại, cô lập, đơn nhất, mà là sự tương tác của ít nhất hai phát ngôn, tức là đối thoại. Nhưng việc nghiên cứu đối thoại muốn hiệu quả cần phải có tiền đề là sự nghiên cứu còn sâu sắc hơn nữa về các hình thức truyền đạt lời kẻ khác, bởi vì các hình thức ấy phản ánh những xu hướng chủ yếu và liên tục của sự tiếp nhận tích cực lời kẻ khác; mà sự tiếp nhận này cũng là nền tảng của đối thoại.

Trong thực tế, lời kẻ khác được tiếp nhận như thế nào? Phát ngôn của người khác sống ra sao trong ý thức nội ngôn cụ thể của người tiếp nhận? Nó được xử lý một cách tích cực ra sao trong đó? Và lời nói tiếp theo của chính người tiếp nhận sẽ được định hướng tới nó ra sao?

Chính trong các hình thức truyền đạt lời kẻ khác, chúng ta gặp một dữ liệu khách quan của sự tiếp nhận như vậy. Dữ liệu này, nếu chúng ta đọc được, sẽ nói cho chúng ta biết không phải về những quá trình tâm lý – chủ quan ngẫu nhiên và thoáng qua “trong tâm hồn” người tiếp nhận, mà về những xu hướng xã hội ổn định của sự tiếp nhận tích cực lời kẻ khác, hàm chứa trong các hình thức ngôn ngữ. Cơ chế của quá trình này không phải ở trong tâm hồn cá nhân, mà ở trong xã hội. Trong số những yếu tố của sự tiếp nhận tích cực lời kẻ khác, xã hội sẽ lựa chọn và chỉ ngữ pháp hóa (tức là làm thích hợp với cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ) những yếu tố nào quan trọng và ổn định về mặt xã hội, và do đó, có cơ sở trong chính thực tại kinh tế của tập thể những người nói.

Tất nhiên, giữa sự tiếp nhận tích cực lời kẻ khác và sự truyền đạt nó trong bối cảnh có liên quan có những khác biệt sâu sắc. Chúng ta không thể bỏ qua những khác biệt đó. Mọi sự truyền đạt, đặc biệt là sự truyền đạt đã được định hình, đều nhằm một mục đích cụ thể nào đó: một câu chuyện, một biên bản xét xử, một bài tranh luận khoa học… Hơn nữa, sự truyền đạt được tính toán để hướng tới một người thứ ba, tức là người được truyền đạt lời kẻ khác. Sự định hướng tới người thứ ba như vậy là đặc biệt quan trọng: nó tăng cường ảnh hưởng của các lực lượng xã hội có tổ chức lên sự tiếp nhận lời nói. Trong giao tiếp đối thoại sống động, tại chính thời điểm truyền đạt những từ được tiếp nhận từ người đối thoại, những từ mà chúng ta đáp lại thường vắng mặt. Trong trường hợp cụ thể rất đặc biệt: để xác nhận mình đã hiểu đúng, để tóm lấy một từ của ông ta… Tất cả những yếu tố đặc thù ấy của sự truyền đạt phải được tính đến. Nhưng bản chất của sự việc không hề thay đổi. Điều kiện truyền đạt và mục đích của nó chỉ tạo điều kiện cho việc thực hiện những gì đã có sẵn trong các xu hướng của sự tiếp nhận nội – ngôn tích cực. Các xu hướng này, đến lượt chúng, chỉ có thể phát triển trong khuôn khổ của các hình thức, truyền đạt lời nói đã có trong ngôn ngữ.

Dĩ nhiên, chúng ta hoàn toàn không hề có ý định khẳng định rằng các hình thức cú pháp, chẳng hạn hình thức của lời nói gián tiếp hay lời nói trực tiếp, sẽ thể hiện trực tiếp và rõ nét các xu hướng của hình thức tiếp nhận tích cực và có đánh giá lời kẻ khác. Dĩ nhiên, chúng ta không tiếp nhận trực tiếp bằng các hình thức lời nói gián tiếp hay trực tiếp. Đó chỉ là những hình mẫu ổn định của sự truyền đạt. Nhưng, một mặt, những hình mẫu này và những biến thể của chúng chỉ có thể phát sinh và hình thành theo các xu hướng chủ đạo của sự tiếp nhận lời kẻ khác. Mặt khác, một khi đã hình thành và hiện diện trong ngôn ngữ, chúng lại có ảnh hưởng mang tính điều chỉnh, kích thích hoặc kìm hãm đối với sự phát triển của các xu hướng tiếp nhận có đánh giá. Những xu hướng này di chuyển theo dòng chảy được các hình thức này quy định trước.

Ngôn ngữ phản ánh không phải những dao động tâm lý – chủ quan, mà các mối quan hệ xã hội ổn định giữa những người nói. Trong các ngôn ngữ khác nhau, tại những thời đại khác nhau, ở các nhóm xã hội khác nhau, vào các ngữ cảnh có mục đích khác nhau, khi thì hình thức này khi thì hình thức khác, khi thì những biến thể này khi thì những biến thể khác của các hình thức đó chiếm ưu thế. Tất cả những điều này cho thấy mức độ mạnh yếu của các xu hướng của sự định hướng lẫn nhau giữa những người nói – những hình thức này chính là các trầm tích lâu đời, ổn định của chúng. Nếu trong những điều kiện nhất định, mộ thình thức nào đó bị ruồng rẫy (ví dụ, một số biến thể – cụ thể là dạng  “giáo điều – duy lý” – của lời nói gián tiếp trong tiểu thuyết Nga hiện đại), thì điều đó chứng tỏ rằng các xu thế chủ đạo trong sự hiểu và đánh giá phát ngôn của kẻ khác rất khó thể hiện dưới hình thức này – hình thức cản trở thay vì dành không gian cho chúng.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s