Trong thời đại của chúng ta có thể như thế. Bởi chúng ta đang sống trong một giai đoạn dài được gọi là ấm lên không đáng kể, xuất hiện sau một đợt khí hậu có phần nào lạnh đi (còn được gọi là thời kỳ tiểu băng hà) kéo dài trong vài thập niên, từ khoảng giữa thế kỷ XIII. Khi thời kỳ này qua đi – vào khoảng năm 1780, khi mà vào giữa mùa đông có thể đi bộ từ mỏm đông bán đảo Czukotka đến bờ tây Alaska (terra firma, vùng đất nối liền Châu Á với châu Mỹ tồn tại 40 – 30 nghìn năm trước đây) – đã xuất hiện thời kỳ phần nào ấm lên tiếp theo, chính là giai đoạn mà chúng ta đang sống đây. Thời kỳ này sẽ kéo dài đến khoảng năm 2300 hoặc thậm chí đến nửa cuối thế kỷ XXIV. Sau đó sẽ lại tiếp tục thời kỳ hơi lạnh hơn, nhưng có nhiều khả năng sẽ ấm hơn hiện nay, bởi chúng ta sẽ có xuất phát điểm cao hơn so với mức trần hiện tại, và sau đó nhiệt độ có thể giảm chút ít cho đến cuối thiên niên kỷ. Trong thập kỷ thứ tư, một lần nữa chúng ta lại bước vào giai đoạn tiếp theo của chu kỳ ấm lên. Như vậy sau 1 nghìn năm nữa – vào năm 3008 – những vấn đề tương tự có thể được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, ngoài ra, những kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực tiễn của con người trong lĩnh vực tác động tới nhiệt độ trái đất sẽ là một điều gì đó thật hiển nhiên.

Tuy nhiên, thậm chí nếu có như vậy đi chăng nữa – nếu quả thật những hoạt động kinh tế của con người không có lỗi trong tình trạng nóng lên của Trái Đất và những hậu quả nặng nề của nó, thì chỉ còn lại một kết luận có giá trị, đó là, cần phải hạ nhiệt cho khí hậu. Song lẽ, để khởi động cỗ máy điều hòa không khí toàn cầu, trước hết phải có nó. Việc tổ chức được chiếc máy  xã hội đặc biệt này là một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và khó khăn nhất mang tính nhân văn trong thế kỷ XXI. Đây là vấn đề toàn cầu, chứ không phải của riêng ai.

Khi nhìn nhận vấn đề một cách thực dụng, chúng ta sẽ thấy rằng quan trọng không phải là nguyên nhân, mà là hậu quả. Mà việc sống chung với nó sẽ ngày càng khó hơn. Khó đến mức nào – chưa thể biết được. Vấn đề càng phức tạp hơn, bởi – không phụ thuộc vào quá trình nóng lên chung – tần suất những đợt nắng nóng đang xuất hiện tại nhiều khu vực của trái đất được ghi nhận từ năm 1880, đã tăng gấp đôi. Cứ mỗi mùa hè chúng ta lại cảm nhận điều này tại nhiều khu vực hơn. Chỉ riêng mùa hè 2007, một đợt nắng nóng khủng khiếp tại Trung tâm Châu Âu đã cướp đi hàng ngàn sinh mạng.

Ngoài ra, cách đánh giá về những đợt nắng nóng khác cũng khác nhau. Ví dụ như ở Mỹ, nếu nhiệt độ vượt ngưỡng 90oF (32,2oC) trong vòng 3 ngày liên tục thì được gọi là nắng nóng. Các nước khác lại định nghĩa các đợt nắng nóng tùy thuộc vào điều kiện thời tiết điển hình của họ – mà đúng hơn là trung bình, bởi thế nào là điển hình ? Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cho rằng, khi nhiệt độ vượt hơn 5oC so với nhiệt độ bình thường cao nhất trong vòng 5 ngày, thì có nghĩa là có đợt nắng nóng, còn nhiệt độ bình thường được hiểu là nhiệt độ trung bình tại khu vực đó trong các năm 1961 – 90. Nhiều người trong số chúng ta cảm nhận điều đó một cách chủ quan. Khi đó là bình thường, nhưng bây giờ thì không.

Hơn nữa, các đợt nắng nóng còn xảy ra ở những vùng mà trước đây không bao giờ có. Đã xảy ra thế này, khi tôi đến thăm Moskva, nơi mà các đài truyền hình rất thích giới thiệu với mùa đông băng giá, vào tháng năm, là tháng mà đúng ra phải có thời tiết dễ chịu nhất, nhưng vào cái lần ấy thời tiết đã không hề dễ chịu, mà cực kỳ nóng, các nhiệt kế ngoài trời chỉ tới 36,7oC. Xét cho cùng thì đây cũng là nhiệt độ bình thường của cơ thể con người, nhưng sao lại nóng thế. Ở Dzibuti thì được, nhưng còn ở Moskva ? Các hãng thông tấn thế giới đã đưa tin về ngày nóng nực đó như là một sự kiện xứng đáng công bố. Trong khi không lâu sau đó nhiệt độ ở Dzibuti lên tới 47oC, nhưng chỉ có tôi là ngạc nhiên (uống đến 5 lít nước mỗi ngày), bởi đối với địa phương đó chưa phải là một thông tin gì đặc biệt.

Các chuyên gia thuộc Liên Hợp Quốc dự báo rằng, nhiệt độ trung bình trong năm 2014 sẽ cao hơn 0,3oC so với năm 2004. Đây là chỉ số cụ thể và cũng là bước nhảy dài nếu tính cho một thập niên. Tiếp tục, trong tương lai, dự tính đến cuối thế kỷ nhiệt độ sẽ gia tăng trong giới hạn – từ 1,8oC đến 4,0oC. Các mức tăng giới hạn đến một lúc nào đó sẽ gây ra những hậu quả khác nhau cho thế giới, nhưng với chính trị thì ngay bây giờ. Nếu như sau chưa đầy 100 năm nữa mà chỉ tăng 1,8oC – thì vẫn còn sống, chưa chết được. Song, nếu khi nhiệt độ trung bình tăng đến 18,5oC – so với mức kỷ lục cho đến hiện nay là 14,5oC của năm 1998 cộng thêm 4oC nữa – thì ở nhiều nơi khó mà sống nổi.

Ở một nơi nào đó sẽ xuất hiện nhiều đợt nắng nóng và hạn hán mang tính hủy diệt, còn ở những vùng khác lại là những đợt mưa và lũ lụt dữ dội. Sẽ hoặc là rất nóng hoặc là rất hạn. Hoặc là sẽ chẳng còn gì hết, bởi mức nước đại dương sẽ dâng cao. Và một khi đã như vậy, thì cần phải hành động ngay, bằng cách tổ chức các chiến dịch mà các cử tri không hề thích. Còn các chính khách thì không thích những gì mà cử tri không thích – còn hơn cả cử tri. Tốt nhất là để những việc này lại cho thế hệ mai sau hơn là bị thua cuộc trong lần bầu cử tiếp theo. Sự bất hạnh của nền dân chủ là liên tục có những cuộc bầu cử kế tiếp…

Do đó mà cuộc vận động nhằm áp dụng một cách rộng rãi trong phạm vi toàn cầu khoản phí với mục đích duy trì ổn định mức khí carbonic trong bầu khí quyển ở mức an toàn, cần cho Phương Tây hơn là những buổi cầu nguyện tại Paris. Nếu như sau ba thế hệ không áp dụng những khoản phí đó, nhiệt độ sẽ tăng thêm 1,8oC, và việc giảm quy mô gia tăng nhiệt độ trung bình của trái đất là 0,1%.năm sẽ dẫn tới sự gia tăng mức chung lên khoảng 1,5oC. Tuy nhiên, nếu quả thật vào năm 2100 nhiệt độ nóng thêm tới 4oC, thì việc hạn chế bước nhảy đến 3oC cũng không cứu nổi chúng ta. Vậy thì, cần ra tay sớm hơn, tiến tới, hành động mộ cách cương quyết và làm nhiều hơn nữa.

Trong các cuộc tranh cãi về môi trường tự nhiên của con người, phải đi đến một sự đồng thuận mang tính thời đại của nhà nước, thể hiện những quyền lợi của toàn xã hội, và giới tư bản tư nhân, chăm lo tới quyền lợi của các cổ đông của mình hơn là những kẻ nắm giữ tiền của (cách chơi chữ trong tiếng Anh là shareholder & stakeholders). Cái khó là ở chỗ, giờ đây tất cả phải diễn ra trên phạm vi xuyên quốc gia, nhiều khi là trên phạm vi toàn thế giới.

Mặc dù có thể là không đúng lắm, khi qui lỗi cho giới tư bản tư nhân về sự thiếu quan tâm toàn diện tới những hậu quả phụ do những hoạt động của họ gây nên – đặc biệt là những hậu quả xã hội tiêu cực – nhưng cũng thật ngây thơ khi tin rằng họ sẽ bắt tay vào việc bảo vệ môi trường một cách thiện chí. Điều đó chẳng khác gì giao cừu cho sói. Song cũng có thể thuần hóa sói, làm cho nó thích nghi với điều kiện tại gia và thậm chí dần biến nó thành một chú chó săn. Khi có vốn thì một điều gì đó tương tự sẽ được tiến hành nhanh hơn nhiều, và với chính sách và nền thể chế hóa đúng đắn, bên cạnh một nền văn hóa phù hợp thì sẽ có cơ hội cho tương lai, để ép nó vào những vấn đề chung của con người. Và khi đó, sói thì no nê mà cừu thì vẫn còn nguyên vẹn.

Với môi trường và thiên nhiên cũng giống như với vũ trang và chiến tranh. Giống theo nghĩa, các khoản tiền công chi cho quân sự và tiến hành chiến tranh gây ra những hiệu ứng giống hệt như tiến trình phát triển kinh tế và giống như chi phí cho bảo vệ môi trường. Một tỷ NDT để mua các thiết bị lọc sạch không khí cũng có thể mang lại hiệu ứng giống như việc chi một tỷ đó cho một phi đội máy bay tiêm kích. Một tỷ USD cho xử lý rác thải công nghiệp làm khởi động trong nền kinh tế Mỹ hiệu ứng cầu dây truyền gống như một tỷ đó để chế tạo một hàng không mẫu hạm. Một tỷ rúp chi cho việc xử lý các con sông bị ô nhiễm tại châu Âu và những vùng công nghiệp hóa của Nga đem lại sản lượng, nhân công lao động và khoản thi ngân sách bằng với những khoản tiền đó chi cho hệ thống radar quốc phòng.

Một cách tức thì, bởi vì về lâu dài – bên cạnh những hiệu ứng biến chuyển mang tính tức thì – kích thích sản xuất và gia tăng nhân công lao động thông qua việc tạo thêm nhu cầu – cũng xuất hiện những thành quả nhiều lợi ích về mặt cơ cấu, trong đó có tiến bộ khoa học – kỹ thuật cùng với tất cả những điều tốt đẹp khác của nó. Rõ ràng là sự chuyển biến khổng lồ trong sản xuất đòi hỏi rất nhiều năm và sự quyết đoán mạnh mẽ về mặt chính trị. Các nước hậu xã hội chủ nghĩa đã cho thế giới thấy, có thể đạt được nhiều như thế nào trên lĩnh vực này, khi trong vòng vài chục năm họ đã chuyển một phần đáng kể nền công nghiệp quốc phòng sang công nghiệp dân sự. Những chuyển biến như thế – trước tiên – đòi hỏi có sự thay đổi hệ giá trị và bảo đảm nền hòa bình thế giới bằng những giải pháp khác so với những chiến dịch khua chiêng gõ mõ.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s