Tính năng động của mối tương quan giữa bối cảnh tác giả và lời kẻ khác

Tất cả những gì cốt yếu trong sự tiếp nhận có đánh giá phát ngôn của người khác, tất cả những người gì có thể có một ý nghĩa tư tưởng nào đó đều được thể hiện trong chất liệu của lời nói bên trong. Bởi lẽ, phát ngôn của người khác được tiếp nhận không phải bởi một sinh vật câm, phi ngôn ngữ, mà bởi một con người với đầy đủ ngôn từ bên trong. Toàn bộ trải nghiệm của anh ta – cái gọi là nền tổng giác – được mã hóa bằng lời nói bên trong của anh ta, và bằng cách ấy nó tiếp xúc với lời nói được tiếp nhận từ bên ngoài. Từ tiếp xúc với từ. chính trong bối cảnh của lời nói bên trong này diễn ra sự tiếp nhận phát ngôn của người khác, sự hiểu và đánh giá nó, nghĩa là, sự định hướng chủ động của người nói. Sự tiếp nhận nội – ngôn, chủ động này đi theo hai hướng: thứ nhất, phát ngôn của người khác bị đóng khung bởi bối cảnh chú giải thực tế (trùng một phần với cái được gọi là nền tỏng giác của từ), tình trạng (bên trong và bên ngoài), và sự biểu đạt trực quan…; thứ hai, chuẩn bị lời đáp (Gegenrede). Tất nhiên, cả sự chuẩn bị lời đáp – sự hồi đáp bên trong – lẫn sự chú giải thực tế đều gắn kết hữu cơ vào thể thống nhất của hoạt động tiếp nhận chủ động và chỉ có thể phân tách một cách trừu tượng. Cả hai hướng tiếp nhận đều được thể hiện, được khách quan hóa trong ngữ cảnh “tác giả” bao quanh lời người khác. Bất kể định hướng mục đích của ngữ cảnh ấy là gì – dù đó là một truyện ngắn nghệ thuật, một bài tranh luận, hay một bài biện hộ của luật sư… – chúng ta có thể phân biệt rõ ràng trong đó hai xu hướng: chú giải thực tế hồi đáp; và thường là một trong hai xu hướng áp đảo. Giữa lời kẻ khác và bối cảnh truyền đạt nó ngự trị các mối quan hệ năng động, phức tạp và căng thẳng. Nếu không tính đến các mối quan hệ này, chúng ta sẽ không thể hiểu được hình thức truyền đạt lời kẻ khác.

Sai lầm cơ bản của các nhà nghiên cứu trước đây về hình thức truyền đạt lời kẻ khác là ở sự cắt đứt nó gần như hoàn toàn khỏi bối cảnh truyền đạt. Do đó mà có tính chất tĩnh, bất động trong định nghĩa các hình thức này (tính chất tĩnh này là đặc điểm của toàn bộ cú pháp học nói chung). Trong khi đó, đối tượng nghiên cứu thực sự chính là mối tương tác năng động của hai đại lượng này – của lời nói được truyền đạt (lời “kẻ khác”) và lời truyền đạt (“lời tác giả”). Bởi lẽ, trên thực tế chúng chỉ tồn tại, sống và hình thành trong mối tương tác này, chứ không phải tự thân và biệt lập. Lời kẻ khác và bối cảnh truyền đạt – đó là những thuật ngữ của một mối tương tác năng động. Tính năng động này, đến lượt nó, lại phản ánh sự năng động của sự định hướng xã hội lẫn nhau giữa những người tham gia giao tiếp tư tưởng – lời nói (tất nhiên, trong những xu hướng chủ yếu và bền vững của giao tiếp này).

Tính năng động của mối quan hệ tương hỗ giữa lời tác giả và lời người khác có thể phát triển theo những hướng nào?

Chúng ta quan sát thấy có hai hướng chính của tính năng động này.

“Phong cách tuyến tính” của sự truyền đạt lời kẻ khác (hướng thứ nhất của tính năng động)

Thứ nhất, xu hướng cơ bản của phản ứng chủ động đáp lại lời kẻ khác có thể là xu hướng duy trì tính toàn vẹn và xác thực của nó. Ngôn ngữ có thể hướng tới việc tạo ra những ranh giới rạch ròi và ổn định của lời kẻ khác. Trong trường hợp này, các hình mẫu và biến thể của chúng giúp khu biệt lời kẻ khác một cách rạch ròi và chặt chẽ hơn, bảo vệ nói khỏi sự xâm nhập của ngữ điệu tác giả, để cô đọng và phát triển cá tính ngôn ngữ của nó.

Đó là hướng đầu tiên. Trong khuôn khổ của nó, cần phải xác định rõ, sự tiếp nhận xã hội của lời kẻ khác trong một nhóm ngôn ngữ nhất định khu biệt đến mức nào, sức biểu cảm xã hội, các đặc điểm phong cách lời nói và sắc thái ngữ nghĩa… được cảm nhận đến đâu. Hay là, lời kẻ khác chỉ được tiếp nhận đơn thuần như là một hành động xã hội trọn vẹn, một thứ lập trường ngữ nghĩa không thể phân tách của người nói, tức là, chỉ có “cái gì” được cảm nhận, còn “như thế nào” thì bị bỏ qua. Lối tiếp nhận và truyền đạt lời kẻ khác mang tính ngữ nghĩa – khách thể và phi cá nhân về mặt ngôn ngữ học như vậy chiếm ưu thế trong tiếng Pháp cổ và trung cổ  (ở tiếng Pháp trung cổ, các biến thể phi cá nhân của lời nói gián tiếp có sự phát triển đáng kể). Trong các văn bản văn học Nga cổ chúng ta cũng gặp dạng này, nhưng gần như hoàn toàn không gặp các hình mẫu lời nói gián tiếp. Dạng thống trị ở đây là lối nói trực tiếp phi cá nhân hóa (theo nghĩa ngôn ngữ học).

Trong khuôn khổ hướng thứ nhất này còn phải phân biệt mức độ tiếp nhận từ ngữ một cách độc đoán, mức độ tự tin và giáo điều về tư tưởng của nó. Từ càng giáo điều, người hiểu và đánh giá nó càng ít có khả năng để nhận biết bất kỳ sự chuyển tiếp nào giữa sự thật và lừa dối, giữa thiện và ác. Khi đó, các hình thức truyền đạt lời kẻ khác càng phi cá nhân hóa nhiều hơn. Bởi lẽ, một khi tất cả các đánh giá xã hội thay đổi toàn diện và triệt để thì không có chỗ cho một thái độ tích cực và quan tâm đến tất cả các yếu tố cá nhân hóa của phát ngôn của kẻ khác. Tính giáo điều độc đoán như vậy rất đặc trưng cho các văn bản tiếng Pháp trung cổ và cho văn học cổ của chúng ta. Đối với thế kỷ XVII ở Pháp và thế kỷ XVIII ở nước ta – đặc trưng là chủ nghĩa giáo điều duy lý. Chủ nghĩa giáo điều duy lý cũng giảm bớt sự cá nhân hóa lời nói, tuy theo các hướng khác. Thống trị trong khuôn khổ của chủ nghĩa giáo điều duy lý là những biến thể phân tích – khách thể của lời nói gián tiếp và những biến thể tu từ của lời nói trực tiếp. Tính rõ ràng và bền vững của ranh giới giữa lời tác giả và lời kẻ khác đạt đến giới hạn cao nhất chính ở đây.

Sử dụng thuật ngữ nghệ thuật học của Wolfflin, chúng ta sẽ gọi xu hướng thứ nhất trong tính năng động của sự định hướng lẫn nhau bằng lời nói giữa lời tác giả và lời kẻ khác là phong cách tuyến tính  (der lineare Stil) của sự truyền đạt lời kẻ khác. Xu hướng căn bản của phong cách này là tạo ra những đường viền rạch ròi bên ngoài lời kẻ khác, đồng thời giảm thiểu tính cá nhân hóa bên trong của nó. Khi toàn bộ ngữ cảnh hoàn toàn đồng nhất về phong cách (tác giả và tất cả các nhân vật nói cùng một ngôn ngữ), thì về mặt ngữ pháp và cấu trúc, lời kẻ khác bị đóng kín tối đa với mức độ cá nhân hóa tối thiểu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s