Theo Ionin, quá trình định hình bản sắc của các cá nhân trong dạng thức văn hóa mới đồng thời cũng là quá trình nó hình thành, khai triển từ trạng thái chồi non. Bắt đầu cùng với sự giới thiệu đối tượng và hành vi ứng xử, và nó hoàn tất bằng sự hình thành của lợi ích xã hội.

Tác giả hệ quan niệm này từ bỏ các khái niệm phong cách văn hóa, phong cách sống, hình thức sống là những khái niệm được coi là có thể thay thế cho nhau. Dưới dạng chung nhất, “phong cách” có thể hiểu là phương thức đặc thù của hành động, của cách thể hiện, của lối thức sinh hoạt. Phong cách, theo Ionin, đối lập với quy thức (canon) truyền thống hiểu như là cái có thể lựa chọn với cái không được lựa chọn.

Khái niệm dạng thức sinh hoạt (forma vivendi) là phương thức đặc trưng cho một tập nhóm người nào đó để thỏa mãn các nhu cầu, các định chế xã hội, các quy phạm hành vi ứng xử và… Vào sơ kỳ thời Trung cổ, khái niệm này được dùng để miêu tả các đặc điểm của đời sống các tu sĩ, sau này thì miêu tả sinh hoạt của các dân tộc khác.

Khái niệm phong cách sinh hoạt (Lebensfuring) thường gặp ở M. Weber dùng để chỉ phương thức xử sự, phương cách tổ chức cuộc sống. T. Weblen gắn khái niệm phong cách sống với sự tiêu dùng theo chỉ định là nét biểu trưng cho tính sở thuộc một tập nhóm hay một giai cấp xác định (Weblen, 1984). Trong xã hội học phân chia giai tầng Anh quốc những năm 1960 và 1970, khái niệm phong cách sống (life-style) hiểu như là tổng hòa các hình mẫu quan hệ xã hội, tiêu dùng phúc lợi vật chất và văn hóa đã từng được sử dụng để phân tích các khác biệt giai cấp. Những khác biệt kể trên được hiểu như là các chỉ số rõ ràng của vị thế giai tầng, còn phong cách sinh hoạt thì được coi là một trong các phương thức thể hiện về mặt xã hội của các giai cấp kinh tế. Trong xã hội học Mỹ, khái niệm phong cách sống được sử dụng để phân biệt các dạng thức sinh hoạt xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa nội và ngoại (ven) đô. Gần đây nó được áp dụng với hàm nghĩa rộng hơn, để chỉ sở thích, phương châm, phúc lợi vật chất hoặc phương thức hành xử của một tập nhóm xã hội bấy kỳ, khu biệt nó với các tập nhóm khác (Aberkrombi, Hill, Terner, 2004).

Khái niệm lối sống được sử dụng phổ biến hơn trong tranh luận xã hội học ở Nga tập trung sự chú ý vào các dạng thức (loại hình, phương thức, đặc tính) xác định của hoạt động sống có chủ thể riêng của mình (cá thể, tập nhóm, xã hội) và có tính tất định bởi điều kiện nhất định (Butenko, 1978; Lối sống, 1983). Tương ứng, rõ ràng là đặc thù của lối sống đô thị (các dạng thức đô thị) một mặt là những điều kiện đô thị, và mặt khác là cư dân đô thị với tính cách là chủ thể tương ứng (Kobjak, 2003).

Nếu trong các định nghĩa kể trên vấn đề được đề cập chủ yếu là các đặc điểm quan sát được một cách khách quan thì dạng thức văn hóa trong sự tồn tại danh nghĩa của nó đúng hơn là cấu thể lý tưởng. Ionin xuất phát từ cách giải thích của F. Tenbruk về văn hóa là cái mang tính chất đặc trưng tiêu biểu: Văn hóa là một hiện tượng xã hội vì nó là cái mang tính đại diện, tức là đề ra các ý tưởng, ý nghĩa, giá trị có hiệu lực do chúng được công nhận trên thực tế. Do đó, văn hóa này bao gồm các xác tín (niềm tin), ý kiến đánh giá, bức tranh thế giới, các tư tưởng và hệ tư tưởng, tác động tới cách hành xử xã hội ở mức độ mà các thành viên xã hội hoặc tích cực chia sẻ, hoặc thừa nhận một cách thụ động (dẫn theo Ionin, 2004: 224). Theo Ionin, “văn hóa đại diện là cái tiêu biểu đại diện trong ý thức của các thành viên xã hội tất thảy mọi sự kiện thực tế, chỉ một cái gì đó đối với các cá nhân hành động. Và những hành vi đó, với họ, mang chính cái được coi là tiêu biểu về mặt văn hóa. Chỉ cái đó là tồn tại đối với các thành viên xã hội và chỉ như thế, tức là đại diện văn hóa, xã hội mới (có thể) tồn tại” (Ionin, 2004: 680). Nói cách khác, có thể diễn đạt tư tưởng cơ bản thế này: các hành động, quan hệ, định chế xã hội… là cái đại diện, tiêu biểu, tức là thể hiện các quan niệm xác định đằng sau nó – chính đó, trong cách tiếp cận này, mới là những điều kiện có tính tất định.

Logic định hình bản sắc trong quá trình đến với một dạng thức văn hóa thông qua sàn diễn văn hóa gồm các giai đoạn sau:

+ Có các thuộc tính bề ngoài của dạng thức văn hóa.

+ Xxx – cảm thụ những hình dung về thế giới đưa ra lời giải thích chỗ đứng của cá nhân và tập nhóm của nó, các tập nhóm khác ứng xử với nhau, vai trò, những điểm khác biệt, lịch sử… của chúng. Các quan niệm này cũng là cơ sở để định hình bản sắc hiểu theo nghĩa “kết nạp” cá nhân vào bức tranh thế giới của dạng thức văn hóa đó. Chẳng hạn, P. Berger và Th. Lukman nhấn mạnh rằng cá nhân đồng chất nhất mình với các tập nhóm xã hội này hay khác hay với các lập trường nào đó là dự trên các quan niệm của anh ta về toàn bộ cấu trúc các lập trường. (Berger, Lukman, 1995).

+ Đề ra trạng thái tình cảm – cảm xúc tương ứng với dạng thức văn hóa. Ionin viết: “Các phương châm đạo đức cũng giả định bản thân nội hàm của lý thuyết. Thực tế thì mọi thứ lý thuyết thường ngày đều vẽ nên một hình ảnh thế giới với hai màu đen – trắng, chia người ta ra thành hai: mình và họ (những người khác mình)… Tuy nhiên, các quy phạm hành vi ứng xử đối với người mình và người khác trong lý thuyết lại khác nhau. Chúng tùy thuộc vào lợi ích của bên mình và bên những người khác kia được quan niệm trong lý thuyết xung khắc đến mức nào, không thể dung hợp, trái ngược, đối lập nhau đến mức nào. Việc giảng dạy lý thuyết đồng thời cũng là giảng dạy các quy phạm đó và bồi bổ đạo đức và tình cảm” (Ionin, 2004: 284).

Khi xét rằng đa số dân cư hiện thời là người đô thị thì khó có thể nói rằng việc có bản sắc đô thị cũng giống như là nói về sàn diễn văn hóa (trừ những trường hợp nói về quá trình hội nhập bản sắc với đô thị mới hay di chuyển nơi cư trú từ nông thôn ra thành phố). Tuy nhiên, giải thích đô thị như là một dạng thức văn hóa tạo điều kiện để phân biệt các yếu tố của nó: môi trường quy phạm, hệ tư tưởng, môi trường bên ngoài, lợi ích (Ionin, 2004: 285 – 286).

Hiện có cả một loạt công trình kinh điển cho phép nghiên cứu đặc trưng đô thị như một dạng thức văn hóa. Nếu theo danh mục các yếu tố mà Ionin đã liệt kê thì có thể nêu những cách miêu tả sau đây về các yếu tố đó:

Lợi ích. Lợi ích xã hội – đó là việc ý thức được các điều kiện tồn tại khách quan của một tập nhóm. Trong trường hợp đô thị thì lợi ích chung trước hết gắn với việc đảm bảo khả năng hiện thực hóa các lợi ích và các mục tiêu riêng khác nhau của người dân sống ở thành phố (Zimmel, 2002: Park, 2002; Mumford, 1996). Điều này được đảm bảo bởi tính chất duy lý luận của tổ chức đời sống chung của dân đô thị, đặc biệt là về phương diện xây dựng và bảo vệ cơ sở hạ tầng cần thiết. Nói cách khác, ở đây nói về lợi ích dựa trước hết trên chức năng vận hành. Đây chính là khía cạnh cơ bản khi nói về sự hình thành “cộng đồng người đô thị” hay “các cộng đồng đô thị địa phương” được hiểu theo tinh thần một “cộng đồng dân sự” với tính cách một “cộng đồng trách nhiệm hữu hạn” (Janowitz, 1961) nhằm bảo vệ quyền (đối với) đô thị của mình (Lefebvre, 1996).

Hệ tư tưởng. Nhà kinh điển nghiên cứu đô thị Louis Maumford trong công trình “Đô thị là gì?” (Mumford, 1996) viết rằng đô thị là một tổng hòa các tập nhóm người có chung một mục đích. Quan điểm này được nhiều tác giả ủng hộ; họ coi một trong những mục tiêu chủ yếu là nhiệm vụ có cá tính riêng và không phải chịu sự chi phối của các cộng đồng bản địa (Zimmel, 2002; Park 2002). Hiểu theo nghĩa này, đô thị tất nhiên là biểu tượng tính duy lý của thời đại là điều đã được cả các nhà kinh điển của xã hội học lẫn các đại biểu của chủ nghĩa hậu hiện đại nhận định chẳng qua chỉ là công cụ để đạt đến những mục tiêu riêng, cá biệt của mình, một cái mà xét về nguyên tắc, đã mất hết tính chất thiêng liêng. Như R. Park đã viết về đô thị: “Đô thị là cái không mang tính tự nhiên và tính thiêng, mà có tính thực dụng và thể nghiệm. Do sức ép cần thiết thực tiễn, cấu thể nay đã không còn chỉ là một hình thức nghi lễ xã hội, chính sách đã trở nên thực dụng, đức tin tôn giáo giờ đây, nói cho đúng, là một quá trình tìm kiếm chứ không còn là truyền thống, là cái đáng ra là phải mất công mới có, chứ không phải đơn giản là nhận (Park, 2004: 4). Đô thị ở đây là điều kiện, là sân chơi, là vật mang các cơ hội để đạt được các mục tiêu – nó có giá trị vì nếu thiếu nó thì hoàn toàn không thể đạt được những mục tiêu (mà đôi khi là do người ta tự đề ra) kia. Tức là cái giá trị không chỉ là ở hạ tầng cơ sở (vật chất), mà còn là tính không thuần về nguyên tắc của người dân đô thị – đó là nhận định đã được thể hiện, chẳng hạn, trong tư tưởng của Z. Bauman (Bauman, 2008).

Yếu tố thể hiện rõ nhất về hệ tư tưởng trong trường hợp này là những khả năng (cơ hội) đa dạng (bao gồm cả khả năng tiếp xúc với cái mới), sự tự thể hiện, tính duy lý, và cả sự bình đẳng nhờ đó mà có, theo tinh thần của Durkheim, như là sự thể hiện “tính đoàn kết gắn bó hữu cơ” một mối phụ thuộc nhau trong hoạt động (thực hiện chức năng), thể hiện cả trong việc công nhận “quyền đối với thành phố” là bình đẳng đối với tất cả mọi người. Định hướng của hệ tư tưởng đô thị vào việc đạt mục đích cũng là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc cập nhật các giá trị năng nổ, thành công, tiến bộ, phát triển, và như vậy cũng có nghĩa là góp phần vào tính hiện đại, cơ động, năng động và… Chính các giá trị này, thường được sử dụng để thiết kế nên các mô hình “tiêu dùng đô thị” như là sự thể hiện “lối sống đô thị” được quảng cáo với mục đích thương mại.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s