“Phong cách hội họa” của sự truyền đạt lời kẻ khác (hướng thứ hai của tính năng động)

Ở hướng thứ hai của tính năng động trong sự định hướng tương hỗ giữa lời tác giả và lời kẻ khác, chúng ta nhận thấy những quá trình với bản chất hoàn toàn ngược lại. Ngôn ngữ phát triển những cách thức tinh tế và linh hoạt hơn để giúp những hồi đáp và bình chú của tác giả thâm nhập vào lời kẻ khác. Bối cảnh tác giả có xu hướng hướng tới việc phá vỡ tính hoàn chỉnh và đóng kín của lời kẻ khác, phân giải nó, xóa bỏ các ranh giới của nó. Phong cách truyền đạt lời kẻ khác như vậy chúng ta có thể gọi là phong cách hội họa. Xu hướng của nó là xóa bỏ các đường viền sắc nét bên ngoài của từ lạ. Đồng thời, bản thân lời nói được cá nhân hóa ở mức độ cao hơn rất nhiều; Sự cảm nhận các mặt khác nhau của phát ngôn của kẻ khác có thể được phân biệt một cách tinh tế. Khi đó, cái được tiếp nhận không chỉ là nội dung khách thể, điều khẳng định chứa đựng trong nó, mà cả những đặc điểm ngôn ngữ của sự diễn đạt nó bằng lời nói.

Trong khuôn khổ hướng thứ hai này có thể có nhiều dạng khác nhau. Động năng của sự suy yếu ranh giới phát ngôn có thể xuất phát từ bối cảnh của tác giả. Bối cảnh tác giả thâm nhập vào lời kẻ ngưỡng một hoặc khinh miệt. Dạng này là đặc trưng cho thời kỳ Phục hưng (nhất là ở tiếng Pháp), cho cuối thế kỷ XVIII và gần như toàn bộ thế kỷ XIX. Khi đó, tính giáo điều độc đoán, duy lý của từ hoàn toàn suy yếu. Khi đó thống trị là một thứ chủ nghĩa tương đối trong các đánh giá xã hội, cực kỳ thuận lợi cho sự tiếp nhận tích cực và nhạy cảm mọi sắc thái ngôn ngữ – cá nhân của tư tưởng, niềm tin, tình cảm. Trên nền tảng này cũng phát triển xu hướng “mầu mè” trong phát ngôn của người khác, đôi khi dẫn đến việc giảm thiểu yếu tố ngữ nghĩa và đề cao sự trang điểm (ví dụ, ở “trường phái tự nhiên”, và ngay cả ở Gogol, lời nói của các nhân vật đôi khi gần như mất hết ý nghĩa chỉ sự, trở thành một thứ đồ vật, tương tự như quần áo, vẻ ngoài, những đồ trang trí…).

Nhưng cũng có thể có một dạng khác: chủ âm của lời nói chuyển vào lời kẻ khác. Lời kẻ khác khi đó trở nên mạnh mẽ hơn và tích cực hơn so với bối cảnh tác giả định hình nó, và có thể nói là bắt đầu phân giải bối cảnh tác giả. Bối cảnh tác giả mất đi tính khách quan vốn có – và thông thường lớn hơn so với tính khách quan của lời kẻ khác. Nó bắt đầu được tiếp nhận và tự nhận thức chính mình với tính chủ quan hệ như “lời kẻ khác”. Trong các tác phẩm nghệ thuật điều này thường được biểu hiện về mặt cấu trúc bằng sự xuất hiện của người kẻ chuyện thay thế cho tác giả (theo nghĩa thông thường của từ này). Lời người kể chuyện cũng được cá nhân hóa, nhiều màu sắc và không đáng tin về mặt tư tưởng hệ như lời nói của các nhân vật. Lập trường của người kể chuyện là bất định, và trong nhiều trường hợp, anh ta nói bằng ngôn ngữ của các nhân vật được mô tả. Anh ta không thể đối lập những lập trường chủ quan của chúng với một thế giới đáng tin cậy hơn và khách quan hơn. Đó là bản chất lối kể chuyện của Dostoievski, Andreu Belưi, Remizov, Sologub, và các nhà tiểu thuyết Nga hiện đại.

Nếu sự xâm nhập của ngữ cảnh tác giả vào lời kẻ khác đặc thù cho sự tiếp nhận lời kẻ khác của cả chủ nghĩa duy tâm chừng mực lẫn chủ nghĩa tập thể chừng mực, thì việc phân giải bối cảnh tác giả minh chứng cho chủ nghĩa cá nhân tương đối luận trong tiếp nhận lời nói. Đối diện với phát ngôn chủ quan của kẻ khác là bối cảnh hồi đáp và chú giải của tác giả, cũng chủ quan không kém trong sự tự nhận thức chính mình.

Đặc trưng của toàn bộ hướng thứ hai là sự phát triển thái quá của các hình mẫu hỗn hợp trong sự truyền đạt lời kẻ khác: lời nói cận gián tiếp, và, đặc biệt là lời nói cận trực tiếp, trong đó ranh giới phát ngôn của kẻ khac bị suy yếu nhiều nhất. Thêm vào đó, những biến thể nào của lời nói gián tiếp và trực tiếp mà tỏ ra linh hoạt hơn và có nhiều khả năng thẩm thấu các xu hướng tác giả hơn (lời nói trực tiếp phân tán, các hình thức phân tích – ngôn từ của lời nói gián tiếp…) sẽ chiếm ưu thế.

Khi khảo sát các xu hướng này của sự tiếp nhận hồi đáp chủ động lời kẻ khác, luôn luôn phải tính đến mọi đặc thù của các hiện tượng lời nói được khảo sát. Đặc biệt quan trọng là tính định hướng mục đích của ngữ cảnh tác giả. Về mặt này, lời nói nghệ thuật tinh tế hơn hiều trong sự truyền đạt mọi thay đổi của sự định hướng tương hỗ xã hội bằng lời nói. Lời nói tu từ, khác với lời nói nghệ thuật, ngay trong chính định hướng mục đích của nó đã không được tự do như vậy khi xử lý lời kẻ khác. Nghệ thuật tu từ đòi hỏi một ý thức rõ ràng về ranh giới của lời kẻ khác. Đặc trưng của nó là cảm nhận sắc nét về quyền sở hữu đối với từ, thái độ nguyên tắc đối với tính xác thực. Đặc thù cho lời nói hùng biện trong tố tụng là cảm nhận rõ ràng về tính chủ quan ngôn từ của “các bên” trong vụ án so với tính khách quan của quan tòa, của quyết định của tòa án và của toàn bộ lời phân tích trong quá trình điều tra – xét xử. Thuật hùng biện chính trị cũng tương tự. Điều quan trọng là xác định tỷ trọng của các lối hùng biện, tố tụng hay chính trị, trong ý thức ngôn ngữ của một nhóm xã hội nhất định ở một thời đại nhất định. Hơn nữa, luôn luôn phải tính đến địa vị, thứ bậc xã hội trong lời kẻ khác được truyền tải. Cảm giác về độ cao thứ bậc của ngôn từ kẻ khác càng mạnh, ranh giới của nó càng rõ ràng, nó càng ít có khả năng xâm nhập vào các xu hướng hồi đáp và bình luận nó. Như vậy, trong khuôn khổ của chủ nghĩa Tân cổ điển, ở các thể loại thấp, có sự từ bỏ căn bản phong cách tuyến tính, giáo điều – duy lý trong cách truyền đạt lời kẻ khác. Rất đặc trưng, lời nói cận trực tiếp lần đầu tiên đạt đến một sự phát triển mạnh mẽ chính trị trong truyện ngụ ngôn và cổ tích của La Fontaine.

Tóm lược lại những gì đã nói về các xu hướng có thể có của mối quan hệ năng động giữa lời kẻ khác và lời tác giả, chúng ta có thể lưu ý những thời kỳ sau đây:

1/ Chủ nghĩa giáo điều độc đoán, đặc trưng bởi phong cách tượng đài tuyến tính và phi cá nhân trong truyền đạt lời kẻ khách (Trung cổ).

2/ Chủ nghĩa giáo điều duy lý, với phong cách tuyến tính còn rõ ràng hơn nữa (thế kỷ XVII và XVIII).

3/ Chủ nghĩa cá nhân hiện thực và phê phán, với phong cách “hội họa” và xu hướng thâm nhập của sự hồi đáp và bình luận của tác giả vào lời kẻ khác (cuối thế kỷ XVIII và thế kỷ XIX); và, cuối cùng.

4/ Chủ nghĩa cá nhân tương đối luận với sự phân giải bối cảnh tác giả (hiện nay).

Ngôn ngữ không tồn tại tự thân, mà chỉ tồn tại trong sự kết hợp với tổ chức cụ thể của một phát ngôn cụ thể, một phát biểu bằng lời cụ thể. Chỉ thông qua phát ngôn, ngôn ngữ mới chạm đến sự giao tiếp, mới thấm đẫm sức sống của nó, mới trở thành hiện thực. Các điều kiện giao tiếp lời nói, các hình thức của nó cũng như các phương pháp khu biệt được quy định bởi các tiền đề xã hội của thời đại. Chính những điều kiện luôn thay đổi đó của giao tiếp xã hội bằng lời nói quyết định những biến đổi của hình thức truyền đạt lời kẻ khác mà chúng ta đã khảo sát. Hơn thế nữa, chúng tôi tin rằng chính ở những hình thức cảm nhận lời kẻ khác và cá nhân người nói bằng ngôn ngữ như vậy, các dạng giao tiếp tư tưởng – xã hội, luôn biến đổi trong lịch sử, được thể hiện nổi bật và rõ nét nhất.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: V.N. Voloshinov – Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ – NXB ĐHQGHN 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s