1.3/ Tri thức

Hầu hết chúng ta đều có một cảm nhận trực quan rằng tri thức rộng hơn; sâu hơn dữ liệu và thông tin. Chúng ta thường dùng thuật ngữ “người có tri thức” để ám chỉ một người uyên thâm về một lĩnh vực, một người vừa có học vị cao vừa thông minh. Tuy nhiên, tất cả mọi người đều không nói “một mẩu tin nhắn đầy tri thức” hay “một cơ sở dữ liệu thông thái” kể cả khi đó là kết quả làm việc của những người hoặc nhóm những người có tri thức.

Hiểu tri thức là gì vốn là đề tài nguyên thủy của triết học. Ở đây và trong khuôn khổ của quản trị tri thức, chúng tôi sẽ tập hợp và đưa ra một định nghĩa dễ hiểu, thực tế giúp người đọc nhận định; sau đó cùng bàn luận về tri thức trong tổ chức. Định nghĩa sẽ thiên về mô tả các đặc tính riêng, có giá trị của tri thức, cũng như những đặc tính làm cho việc quản trị tri thức trở nên khó khăn nhưng cần thiết.

Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức nảy sinh trong bộ não của con người. Trong các tổ chức, tri thức thường thể hiện trong các tài liệu nhưng cũng có thể ẩn trong các tập quán, các quy trình, nguyên tắc thực hiện công việc hay những chuẩn mực chung.

Như vậy, rõ ràng tri thức không hề rõ ràng và đơn giản. Tri thức là một dạng tổng hợp của rất nhiều các thành tố, nó vừa có cấu trúc lại thể hiện sự linh hoạt trong kết hợp các thành tố. Đồng thời, tri thức là trực quan nên khó có thể nắm bắt, thể hiện ra thành lời hoặc hiểu trọn vẹn. Tri thức tồn tại trong con người, là một phần tạo nên tính phức tạp và khó nắm bắt của con người. Mặc dù chúng ta vẫn nghĩ rằng tài sản là cái gì có thể định nghĩa được, nắm bắt được, song tài sản tri thức lại không như thế.

Tri thức được tạo nên từ thông tin, giống như thông tin được hình thành từ dữ liệu. Thông tin trở thành tri thức thông qua các quá trình sau:

+ So sánh (Comparison): thông tin về hoàn cảnh hay sự việc này so với hoàn cảnh và sự việc khác mà chúng ta đã biết.

+ Đúc rút (Consequense): những bài học gì mà thông tin mang lại hỗ trợ cho các quyết định và hành động của chúng ta.

+ Kết nối (Connection): tri thức này liên hệ với tri thức khác như thế nào.

+ Hội thoại (Conversation): những người khác nghĩ gì về thông tin này.

Tiếp ví dụ 1 về trạm xăng ở mục 1.1/ Dữ liệu và 1.2/ Thông tin. Sau khi có được các thông tin có ý nghĩa, người quản lý trạm xăng có thể dựa thêm vào những kiến thức, kinh nghiệm có sẵn của mình để phân tích rằng khách hàng đến trạm xăng phần nhiều vào khoảng thời gian sáng hoặc chiều muộn, trùng với thời điểm họ đi làm và tan sở. Thời điểm này ai cũng rất vội và không kiên nhẫn. Do vậy, anh ta quyết định sẽ tăng cường nhân viên phục vụ, gồm cả nhân viên bơm xăng, nhân viên thu đổi tiền, nhân viên hướng dẫn khách hàng để đảm bảo việc bán hàng được nhanh chóng thuận lợi và làm khách hàng hài lòng.

Rõ ràng những hoạt động sáng tạo tri thức diễn ra trong và giữa con người với con người. Khi tìm kiếm dữ liệu trong các bản ghi hoặc các giao dịch, tìm kiếm thông tin trong các thông điệp, chúng ta thu được tri thức từ các cá nhân hoặc nhóm cá nhân, hoặc thông qua các thói quen, tập quán của tổ chức. Tri thức được chuyển qua những phương tiện như sách, tài liệu, quan hệ người – người, từ những trao đổi thông thường đến những trao đổi mang tính chính thống hơn.

1.4/ Tri thức trong hành động

Một trong những lý do khẳng định tri thức có giá trị hơn là vì tri thức gần hành động hơn dữ liệu và thông tin. Tri thức có thể và nên được đánh giá bằng các quyết định hành động mà nó dẫn tới. Chúng ta có thể sử dụng tri thức để đưa ra các quyết định hợp lý và hiệu quả hơn về chiến lược kinh doanh, đối thủ, khách hàng, kênh phân phối, chu kỳ sống của sản phẩm và dịch vụ. Tất nhiên, do tri thức và quyết định thường nằm trong bộ óc con người, rất khó có thể nhận định được đường dẫn cụ thể từ tri thức tới hành động.

Hiện nay nhiều tổ chức đang rất nỗ lực quản trị tri thức. Các nhà quản trị đều đưa ra câu hỏi “Làm thế nào để phân biệt được dữ liệu, thông tin và tri thức?” Họ thường khích lệ các sáng kiến nhằm cộng thêm giá trị vào dữ liệu và thông tin có thể tạo được tri thức.

Ví dụ 2: Hãng sản xuất ô tô Chrysler đã lưu giữ tri thức về việc phát triển một mẫu xe mới trong một series sách với nhan đề “Bộ sách kỹ thuật tri thức” (Engineering Books of Knowledge). Mục tiêu của “bộ sách” này, thực chất là các tệp tin trên máy tính, là tạo ra một “bộ nhớ điện tử” để lưu giữ tri thức của đội phát triển xe. Cuốn sách là kết quả tập hợp dữ liệu va chạm thử nghiệm của xe. Tác giả cuốn sách phân loại các kết quả đó như dữ liệu và động viên người nộp kết quả cộng thêm giá trị cho dữ liệu đó. Ngữ cảnh của các kết quả đó là gì? Tại sao các thử nghiệm va chạm lại được thực hiện? Việc so sánh kết quả của mẫu xe mới với các mẫu xe trước và các mẫu xe đối thủ ra sao? Những kết quả này có gợi ý gì liên quan tới thiết kế lại thanh chống va đập trước xe? Rất khó có thể xác định được chính xác ở mức nào thì dữ liệu trở thành thông tin và thông tin trở thành tri thức, tuy vậy, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ ràng chuỗi giá trị cộng thêm trong từng bước công việc thực hiện.

Tri thức cũng có thể giảm giá trị, chuyển về trạng thái của thông tin và dữ liệu. Lý do điển hình nhất cho quá trình này thường là sự quá tải. Khi con người bị quá tải tri thức, họ không dùng đến nữa, tri thức với họ trở thành dữ liệu.

Do tính phức tạp và khó nắm bắt của tri thức, có rất nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra. Hộp 1.1 tập hợp một số định nghĩa để người đọc tham khảo. Việc sử dụng định nghĩa nào còn phụ thuộc vào ý tưởng và mục tiêu sử dụng của người dùng. Tuy vậy, nếu xét một cách tổng quát thì các định nghĩa tri thức đều nhấn mạnh ở các từ khóa chung như “kinh nghiệm”, “học tập”, “ngữ cảnh”, “hành động” và cũng phù hợp với khái niệm đã được dẫn ở trên. Như vậy, ta có thể hiểu về tri thức như sau:

Tri thức là một dạng tổng hợp của cảm nhận, kinh nghiệm, giá trị, thông tin trong ngữ cảnh giúp tạo khuôn khổ cho việc đánh giá và tiếp nhận những kinh nghiệm và thông tin mới. Tri thức dẫn dắt hành động của chủ thể. Tri thức có thể là tri thức cá nhân nhưng cũng có thể là tri thức của tổ chức. Tri thức cá nhân nảy sinh trong bộ não con người. Trong các tổ chức, tri thức thường thể hiện trong các tài liệu nhưng cũng có thể ẩn trong các tập quán, các quy trình, nguyên tắc thực hành công việc hay những chuẩn mực chung.

Hộp 1.1 Các định nghĩa về tri thức

Tri thức là sự hiểu biết về một sự vật mà con người có được thông qua kinh nghiệm hoặc học tập. Tri thức có thể là của cá nhân một người, học một nhóm người nói chung.

Nguồn: http://dictionary.cambridge.org/dictionary/british/knowledge

Tri thức là những hiểu biết có hệ thống về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội.

Nguồn: http://vdict.com/tri+th%E1%BB%A9c,3,0,0.html

Tri thức là hệ thống thông tin. Tri thức liên quan tới các sự kiện, sự thật, các nguyên tắc có được thông qua quá trình học hoặc tự tìm hiểu, nghiên cứu và trải nghiệm

Nguồn: www.seattlecentral.org/library/101/textbook/glossary.html

Tri thức là thông tin đã được đánh giá và tổ chức trong trí óc con người để phục vụ cho một mục đích nhất định.

Nguồn: www.aslib.co.uk/info/glossary/html

Tri thức là thông tin liên quan tới các quy luật cho phép hiểu thông tin và sử dụng thông tin vào các mục đích có ý nghĩa.

Nguồn: www.seanet.com/daveg/glossary/htm

Tri thức là sự quen thuộc, sự nhận thức hoặc những hiểu biết thu được thông qua quá trình trải nghiệm hoặc học tập.

Nguồn: www.ifcom.mil/about/glossary.htm

Tri thức là thông tin trong ngữ cảnh, là sự hiểu về ý nghĩa của thông tin.

Nguồn: www.cio.gov.bc.ca/other/daf/IRM_Glossary.htm

Tri thức là niềm tin đã được kiểm chứng, làm tăng khả năng hoạt động hiệu quả của một tổ chức (Nonaka).

Nguồn: www.sims.berkeley.edu/courses/is213/s99/Projects/P9/web_site/glossary.htm

Tri thức là thông tin cộng với ý nghĩa của nó.

Nguồn: www.wotug.ukc.ac.uk/parallel/acronyms/hpccgloss/all.html

Tri thức là sự hiểu biết và trí nhớ (recall) về thông tin được đánh giá bằng độ sâu, độ rộng và khả năng nghiên cứu để giải quyết các vấn đề.

Nguồn: www.csufresno.edu/humres/Classification.Compensation/Glossary%20of%20Terms.htm

Tri thức là thông tin mà con người sử dụng cùng với các quy luật và ngữ cảnh để sử dụng các thông tin ấy.

Nguồn: www.vnulearning.com/kmwp/glossary.html

Tri thức là thông tin cần thiết để phát triển các kỹ năng. Tri thức để thực hiện công việc gồm các khái niệm hoặc quy luật liên quan tới công việc đó (tri thức mô tả) và mối quan hệ tương hỗ giữa chúng (tri thức cấu trúc). Tri thức chứa đựng nội dung hoặc thông tin về một công việc cụ thể mà một người tiếp thu được thông qua quá trình đào tạo, giáo dục hoặc làm việc. Tri thức được xây dựng dựa trên nền tảng khả năng nhận thức mà một người đưa vào hoàn cảnh làm việc cụ thể.

Nguồn: www.eurocontrol.int/eatmp/glossary/terms/terms-11.htm

Tri thức là một phần trong hệ thống thứ bậc gồm dữ liệu, thông tin và tri thức. Dữ liệu là những sự việc nguyên bản. Thông tin là dữ liệu trong hoàn cảnh. Tri thức là thông tin với các hướng dẫn hành động dựa trên hiểu biết và kinh nghiệm.

Nguồn: www.itilpeople.com/Glossary/Glossary_k.htm

Thông tin định nghĩa sự việc (A là B). Tri thức định nghĩa những việc mà một người cần làm khi một sự việc nhất định xảy ra. Vì vậy, nếu A là B, thì hãy làm C. Tri thức có thể được mã hóa theo nhiều cách khác nhau. Các chính sách hay các quy tắc kinh doanh là những dạng phổ biến của tri thức.

Nguồn: www.bptrends.com/resources_glossary.cfm

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Đặng Thị Việt Đức & Nguyễn Thu Hương – Quản trị tri thức trong doanh nghiệp, NXB TTTT 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s