Năm 1989 là năm đặc biệt thành công trong việc đảo ngược xu thế, khi đó mức gia tăng dân số tự nhiên tuyệt đối tăng liên tục (tăng thêm 87,7 triệu người) và năm sau đó, mức tăng bất đầu giảm (tăng thêm 77,3 triệu người trong năm 2007). Cục Dân số Mỹ (US. Census Bureau) dự đoán rằng, đến nửa thập niên tới mức tăg dân số tuyệt đối của trái đất sẽ duy trì ở mức gần bằng hiện nay, tức dao động trong khoảng từ 76 đến 78 triệu mỗi năm, sau đó, sẽ liên tục giảm đến mức 46 triệu người/năm trong nửa thế kỷ này.

Nếu mức trung bình ấy là có lợi dưới góc độ kinh tế – xã hội phân bố theo khu vực, thì đấy là cơ sở để chúng ta hài lòng. Song lại không được như vậy. Có những nơi, số dân tăng nhanh với tốc độ đáng sợ, có những nơi, dân số thụt giảm đáng kể. Xu hướng khác nhau là hàm số của một số biến số, trước hết là tỷ lệ sinh và chết yểu của trẻ sơ sinh và tuổi thọ, mà quá trình dân số lại là hàm số của điều kiện kinh tế trong cuộc sống và những kỳ vọng về những thay đổi của nó trong tương lai. Có một sự phân tán rất lớn liên quan đến tất cả các biến số này. Ngoài ra, tác động tới quá trình này còn có hiệu ứng của hiện tượng di cư. Điều này sẽ tiếp diễn trong tương lai.

Bi kịch là ở chỗ, số trẻ sinh ra nhiều nhất lại ở các nước lạc hậu nhất, nơi mà điều kiện dinh dưỡng, nuôi dạy và giáo dục là vô cùng khó khăn. Đấy là một thực tế đáng buồn. Điều này diễn ra trong những bối cảnh xã hội văn hóa đặc thù. Những hậu quả kinh tế rất đáng lo ngại, bởi vì tình trạng không phát triển biểu hiện bằng mức thu nhập thấp, thiếu thốn lương thực và thiếu những điều kiện chăm sóc sức khỏe cơ bản nhất, một phần các cháu đã chết yểu ngay sau khi sinh ra, một số sống được đến 5 tuổi, số mà tồn tại được thì lại rơi vào tình cảnh cùng cực.

Trong số 10 quốc gia có tỷ lệ sinh cao nhất, thì 4 – Afghanistan, Somalia, Brundi và Cộng hòa Dân chủ Congo – lại thuộc 10 nước nghèo nhất thế giới, với mức thu nhập tính trên đầu người thấp hơn 800 USD (tính theo PSN). Somalia và 3 nước khác trong nhóm 10 nước nghèo nhất – Mali, Niger và Angola – lại nằm trong những vị trí cuối cùng trong 10 nước có tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao nhất. Tỷ lệ tử vong sau khi sinh tại Angola và Sierra Leone lần lượt là 184,4 và 158,3 trên 1000 trẻ sơ sinh. Tại Mali và Niger phụ nữ sinh trung bình 7,4 con, tại Afghanistan và Yemen – là 6,6 và 6,5. Tính trung bình thì cứ một gia đình thì ít nhất lại có ít nhất một cháu chết yểu. Năm trước trong số 10 nước có tỷ lệ sinh con cao nhất cũng là những nước có tốc độ tăng dân số cao nhất (theo ước tính của Liên hợp quốc cho các năm 2005 – 2010) : Brundi – 3,9%, Afghanistan – 3,85%, Niger – 3,49%, Mali – 3,02% và Congo 3 – 3,22%. Gần đây, Liberia nổi lên như một quốc gia có tốc độ tăng dân số cao nhất thế giới – 4,5%. Đứng ở vị trí đỉnh của danh sách này là các nước hay vùng lãnh thổ như Tây Sahara và Đông Timor hay Eryteria và Palestine. Điều đập vào mắt chúng ta là, trong phần lớn các trường hợp thì đó là những nước cho đến gần đây vừa trải qua những xung đột vũ trang, chúng phản ứng ở phần nào về thời kỳ kinh hoàng đó.

Nếu đi du lịch tới các nước này thì có thể cảm nhận được điều đó trong bầu không khí xã hội sở tại. Và cũng dễ dàng nhận thấy rằng, những nước này rơi vào vòng luẩn quẩn – nghèo khó làm gia tăng dân số, sự gia tăng dân số lại càng làm nghèo khó hơn, mà có thể từ đây bùng nổ những xung đột vũ trang, được kích động bởi sự khác biệt sắc tộc – không có cơ hội vượt qua sự đình trệ mang tính cơ cấu để bước vào con đường phát triển. Nếu như Trung Quốc, mới chỉ gần đây thôi còn là một nước nghèo, không cương quyết áp dụng những biện pháp triệt để nhằm kiểm soát việc sinh đẻ (ở đó một phụ nữ sinh trung bình 1,75 con và tốc độ tăng dân số là 0,58%) thì ngay nay có lẽ đã là nước nghèo khổ và đông dân nhất thế giới, chứ không thể tự hào như hiện nay vì thành tích to lớn trong công cuộc phát triển đất nước.

Ở thái cực kia, chúng ta lại có những quốc gia, mà phụ nữ chỉ sinh 1 con và bình quân không nhiều hơn con số 1. Những trường hợp cá biệt, không đem lại ý nghĩa gì đối với số phận thế giới, do quy mô quá nhỏ, đấy là Đài Loan, Singapore, và Hong Kong, ở những nước này, mỗi phụ nữ sinh lần lượt là 1,12 ; 1,07 ; và 0,98 con. Các nước có dân số đáng kể, nhưng nằm gần đáy bảng xếp hạng là Nhật Bản và Ukraine với tỷ lệ lần lượt là 1,23 ; 1,24 hay Nga và Đức – lần lượt là 1,39 ; 1,40. Tóm lại, trong danh sách 222 quốc gia và các vùng lãnh thổ được các tổ chức quốc tế xây dựng, có tới 96 quốc gia có tỷ lệ sinh đẻ thấp hơn (tỷ lệ) 2,1. Tỷ lệ này được coi là tỷ lệ sinh đẻ tái tạo, nhằm bảo đảm duy trì số dân hiện thời (không tính tới tác động của di dân).

Trong danh sách dài lê thê của các quốc gia, điều làm ngạc nhiên là Mỹ có tỷ lệ 2,09, đứng ở vị trí thứ 126. Ba Lan với tỷ lệ 1,26, đứng ở vị trí 206 giữa một bên là các nước như Italy, Tây Ban Nha, Hàn Quốc và bên kia là Litva, Slovenia, Moldavia, Ukraine, Bosnia và Hercegovina. Có một điều đặc biệt là, trong số 20 quốc gia có nhịp độ tăng dân số âm, thì có tới 16 nước thuộc các nước hậu xã hội chủ nghĩa Châu Âu, kể cả Nga, Gruzia và Armenia. Bốn nước còn lại là Đức và Nhật Bản, có tỷ lệ sinh đẻ rất thấp và đi xuống, thêm vào đó còn có thể kể đến các nước như Dominica cạnh biển Caribean và Guiana tại Nam Mỹ. Như vậy, khi loài người ngày càng đông đảo, thì tại một số nước dân ngày càng nhiều (và quá đông), còn tại một số nước khác lại ngày một ít đi (và quá ít). Sự không đồng đều hiểu nhiên về dân số này sẽ ngày càng sâu sắc và hiện tượng di dân không còn là nhỏ.

Nhận định rằng, đến năm 2050, tỷ lệ sinh đẻ giảm dưới ngưỡng bảo toàn tái tạo dân số sẽ diễn ra ở cả những nước khác nữa. Hiện nay tình trạng này đã hiện hữu ở tất cả 27 nước thuộc Liên minh châu Âu. Nếu như 50 năm trước đây – vào năm 1957, khi nền tảng cho Liên minh hiện nay được thiết lập – ở tất cả các nước đó tỷ lệ sinh đẻ cao hơn 2,1, thì hiện nay cũng ở tất cả các nước, không có ngoại lệ, tỷ lệ này ở mức báo động, dao động quanh mức từ 1,86 tại Ireland đến 1,21 ở Litva. Trong bối cảnh đó, dự báo suy giảm số dân ở Châu Âu từ mức hiện nay là chưa đầy 730 triệu xuống khoảng – vâng, chính thế, khoảng bao nhiêu đây ?

Một số dự báo mức giảm khoảng 1%, tức là khoảng 7 triệu người. Một số người khác – trong đó – điều quan trọng – có các chuyên gia của Liên hợp quốc – giảm đến 10% tức là trên 70 triệu người. Trong phương án thứ hai, người Châu Âu không phải như hiện nay, tức chiếm 11% mà khoảng 7% dân số thế giới. Duy chỉ có Bắc Mỹ là duy trì được tỷ lệ thấp hơn tỷ lệ trung bình của thế giới, tuy nhiên số dân ở riêng nước Mỹ sẽ tăng thêm 100 triệu, từ mức khoảng 302 triệu (không tính một vài chục triệu là dân di cư bất hợp pháp) lên 402 triệu trong nửa thế kỷ này. Tuy nhiên, có thể sẽ khác hơn nếu lưu ý tới cuộc tái chiếm Trung và Nam Mỹ đặc biệt của người Tây Ban Nha và sự gia tăng làn sóng di cư từ Nam Mỹ và Trung Mỹ vào California, New Mexico, Arizona, Nevada, Texas. Một số người nhập cư vẫn còn mang dòng máu của người da đỏ, nhưng giờ đây không thể đuổi họ đi hoặc nhốt họ trong những khu rừng sinh thái được.

Tuy nhiên, tất cả các dự báo dân số học đều khiến chúng ta không khỏi nghi ngờ và e ngại. Những dự báo stricte kinh tế lại càng nhiều hơn. Ai cũng hiểu rằng mỗi dự báo đều dựa trên những giả thuyết nhất định. Và ai cũng hiểu rằng khoảng thời gian dự báo cũng kéo dài, mức độ không chắc chắn càng lớn, mà các dự báo về dân số thực chất là những dự báo dài hạn. Cũng là điều dễ hiểu, rằng trong thời gian đó có thể xuất hiện những bối cảnh mà hiện nay không chỉ không dự đoán được mà còn không thể giả định được. Thì từ những kinh nghiệm trong quá khứ, chúng ta đều biết dự báo là một công việc nhiều rủi ro như thế nào. Trong dự báo dân số, thì dự báo về tỷ lệ sinh và tử vong ở những nước kém phát triển và dự báo về những đợt di dân ồ ạt là hết sức khó khăn.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào dự đoán về sự giảm sút dân số tại Nga từ mức 142 triệu hiện nay xuống còn 104 triệu vào năm 2050, thì chúng ta buộc phải đưa ra câu hỏi, liệu có đúng như vậy không hay chẳng qua vấn đề bị nhìn nhận một cách méo mó. Nếu vấn đề bị nhìn nhận một cách méo mó (là điều rất nên nghi ngờ) thì là do vô tình hay hữu ý ? Không thể ngoại suy từ xu hướng của những năm gần đây – khi nước Nga đang trải qua cuộc khủng hoảng sâu sắc về dân số, mà một phần là hậu quả thứ cấp của những thực nghiệm chuyển đổi thể chế theo hướng tân tự do, một phần là do hậu quả của môi trường bị đầu độc và lối sống thiếu lành mạnh đối với sức khỏe – cho vài chục năm tiếp theo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s