Trong công trình nghiên cứu lý thú của mình – The basic conception of Buddhism (Quan niệm cơ bản về Phật giáo) -, giáo sư V. Bhattacharya, sau khi tìm tòi và phân tích tường tận, đã đi đến kết luận: phủ nhận tự ngã là giáo lý nền tảng của Phật giáo. Ông nói:

“Sự tồn tại của một tự ngã thường hằng, dù được trình bày theo nhiều phương thức, như được chấp nhận trong những hệ thống triết học khác, đã bị Đức Phật phủ nhận hoàn toàn, do đó đã làm sụp đổ toàn bộ nền tảng của tham dục”.

Một học giả lỗi lạc khác là giáo sư Stcherbatsky quá cố cũng nhấn mạnh ở điểm này.

Khi gọi học thuyết về một tự ngã thường hằng là “kiến giải của kẻ ngu muội” thì rõ ràng Đức Phật đã tuyên chiến với học thuyết giáo điều truyền thống. Trong mọi bài thuyết pháp, khi Ngài đề cập đến giáo lý vô ngã hay vọng tưởng về ngã sở kiến (satkãyadrşti), thì ta có thể dễ dàng cảm nhận được sự tương phản, thậm chí là thái độ đối kháng gay gắt, trong lời nói của Ngài. Giáo lý này, cùng với khía cạnh tích cực của nó – cho rằng chế ngự được mọi hoạt động của các uẩn riêng biệt mới có thể đạt đến sự Giải Thoát Vĩnh Cửu – là phần cốt lõi trung tâm trong toàn bộ giáo lý của Đức Phật. Và bà Caroline Rhys Davids nhận xét: “lập trường đối kháng lại thực thể luận đã được ấp ủ và tán dương một cách cẩn trọng và chu đáo biết là ngần nào”. Chúng ta có thể nói thêm rằng toàn bộ lịch sử triết học Phật giáo có thể được mô tả như một loạt các nỗ lực đào sâu hơn nữa vào trực giác độc đáo uyên nguyên của Đức Phật, trực giác mà Ngài tin là khám phá vĩ đại của mình”.

Đến lúc này, chúng ta đã có một lập trường chính xác để chỉ ra mối quan hệ giữa Upanişad và Đức Phật. Cả hai đều có chung một vấn đề cần phải quan tâm, đó là khổ (duhka), và cả hai đều nhận thấy nỗi khổ rất mãnh liệt và hiện diện ở khắp mọi nơi. Mọi hiện tượng tồn tại trên cõi đời này đều bất toàn và khổ não. Điều đó đã đặt ra cho chúng ta lý tưởng về một cảnh giới vượt qua mọi khổ đau và ràng buộc. Upanişad nói về cảnh giới đó mang tính tích cực, xem đó là trạng thái tâm thức thuần khiết, tịch lặng và hỷ lạc (Vijňãna ãnandarm brahma). Đức Phật lại nói đến khía cạnh tiêu cực của cảnh giới đó: Niết Bàn là sự tiêu trừ mọi khổ đau. Cả hai đều nói về cảnh giới tối hậu đó mà không dùng đến những khả năng khẳng định của kinh nghiệm, xem như không thể so sánh với bất cứ thứ gì trên thế gian này; do đó cả hai đều dùng một loại ngôn ngữ thích hợp: đó là sự yên lặng. Cả Upanişad lẫn Đức Phật đều nhất trí ở một điểm, đó là không một phương tiện kinh nghiệm nào, không một lễ hiến sinh hay một nghi thức sám hối nào có thể đưa ta đến cảnh giới đó được, mà chỉ có một trực kiến sâu thẳm về thể tính của thực tại mới làm được điều đó. Bởi vì theo các Upanişad thì tự ngã là thực hữu, còn việc ta đồng nhất nó với thân xác (kośas), với các trạng thái hay với một đối tượng của kinh nghiệm chỉ là sự kiện mang tính ngẫu nhiên mà thôi. Bằng cách phủ định sự đồng nhất sai lầm đó, phủ định những giới hạn không thực của nó, ta có thể biết bản thể chân thực của tự ngã. Tự ngã là Brahman, ngoài ra không có gì khác. Không một nỗi sợ hãi, sân hận hay tham chấp nào có thể làm tổn thương đến nó. Liễu ngộ được tự ngã (ãtmakãma) có nghĩa là làm thỏa mãn mọi dục vọng (ãptakãma), và nhờ đó mà vượt trên mọi dục vọng (akãma).

Đức Phật đạt đến chỗ rốt ráo tó cao của cảnh giới vô dục, nhưng không phải bằng cách phổ biến hóa “tự ngã” (ãtman), mà bằng cách phủ nhận nó hoàn toàn. Bởi vì, hễ một khi ta xem một đối tượng nào đó là vĩnh cửu và thọ nhận cảm giác hỷ lạc, xem như là tự ngã, thì tâm ta sẽ tham luyến vào nó, và nảy sinh ác cảm với những gì đối nghịch lại nó, và thế là đắm chìm trong vòng trói buộc của sinh tử luân hồi (samsãra). Tự ngã (attã) là căn nguyên của mọi khổ đau, và cần phải nhổ sạch tận gốc mọi ý niệm về nó để đạt đến Niết Bàn (Nirvãņa). Đối với các Upanişad thì tự ngã là thực hữu, còn đối với Đức Phật thì đó chỉ là một vọng niệm căn nguyên, không hề có thực. Các Upanişad không xem kinh nghiệm tối thượng – hay Phạm hữu (brahmãnubhava) – là sự hủy diệt “tự ngã”, mà là sự hủy diệt những điểm đặc thù và tính hữu hạn của nó mà thôi. Trên thực tế, chúng ta thể hiện được sự hiện hữu đa dạng phong phú của mình như là cái toàn thể (bhũmã). Đức Phật, bằng sự phủ định, đã đạt đến cảnh giới hỷ lạc tối cao đó như là Tánh Không, vắng bặt bóng dáng của tri thức và ý thức. Cả hai đều đạt đến cảnh giới toàn nhiên vô dục, nhưng bằng hai phương tiện khác nhau. Đức Phật đã dùng sức mạnh thiên tài của tâm linh để khai phá một con đường hoàn toàn mới lạ, con đường của sự phủ định.

Trong các tác phẩm của mình, giáo sư Radhakrishna đã đưa ra những nhận xét về sự khác biệt giữa Đức Phạt và Upanişad:

Nếu có sự khác biệt giữa giáo lý của Upanişad với Đức Phật thì đó không phải là sự khác biệt trong quan điểm về thế giới của kinh nghiệm, tức cõi sinh tử luân hồi (samsãra) mà trong quan niệm về thực tại, tức Niết Bàn (Nirvãna).

Điểm khác biệt cơ bản giữa giáo lý của Đức Phật với các Upanişad có vẻ là sự khác biệt về thực tại siêu hình của một bản thể thường hằng bất biến, được xem là chân ngã của con người… Quả thực là Đức Phật không hề tìm thấy một tâm điểm nào của thực tại, hay một nguyên lý vĩnh hằng nào giữa thế giới hiện tượng luôn lưu chuyển cuồn cuộn như thác đổ, song điều đó không có nghĩa là trong thế giới không hề có cái gì là thực hữu, ngoại trừ sự tác động của các lực”.

Có phải chăng sự khác biệt cơ bản về siêu hình học là căn nguyên của mọi sự khác biệt khác? Nếu Phật giáo “chỉ là sự trùng tuyên những ý tưởng của Upanişad”, với một chút khác biệt là đưa ra những trọng điểm mới, thì ta chỉ cần nhấn mạnh đến “trọng điểm” này là đủ, đặc biệt là vì bản chất của trọng điểm đó, về cơ bản, là siêu hình học. Các Upanişad và Phật giáo cùng thuộc về một thể loại [genus] tâm linh như nhau, chỉ khác nhau về giống [species]; và sự khác biệt nằm ở chỗ chấp nhận hay phủ nhận một bản thể thường hằng, là tự ngã.

IV/ Có phải Phật giáo nguyên thủy khẳng nhận có tự ngã?

Rất nhiều các chuyên gia Đông phương học đã cố gắng khám phá trong Phật giáo nguyên thủy giáo pháp thực sự của bậc đạo sư, để phân biệt với các học phái mang tính hàn lâm kinh viện về sau. Một số học giả như Poussin, Beck và nhiều người khác quả quyết rằng pháp môn Yoga và cách tu tập theo giới luật đã tạo nên giáo lý nguyên thủy của Đức Phật mà về sau lại được các học giả kinh viện biến thành giáo lý vô ngã.

Tác giả Rhys Davids, dựa vào rất nhiều tư liệu kinh văn trích dẫn, đã cho rằng:

Chúng ta có thể tìm thấy Đức Phật thật sự ở trong những điều mà kinh tạng (Piţakas) vô tình tiết lộ, và phải chịu đựng để tồn tại qua thời gian, nhiều hơn là trong những điều kinh tạng khẳng định là chính yếu và cơ bản. Sở dĩ có điều này là vì những người kết tập kinh điển sống cách xa Đấng Sáng Lập không ít hơn năm thế kỷ, vào thời điểm mà nhiều giá trị đã bị đổi thay”.

Theo bà Rhys Davids thì Đức Phật không hề trực tiếp phủ nhận tự ngã một cách dứt khoát, mà Ngài chỉ phủ nhận quan điểm cho rằng các uẩn là tự ngã.

Các câu nói “Thân không phải là tự ngã”, “Tâm không phải là tự ngã” không thể được phát biểu với hàm ý rằng không hề có tự ngã, linh hồn, hay “con người” thực sự. Điều này cũng giống như việc cho rằng tôi phủ nhận sự tồn tại người chỉ huy tàu, chỉ vì tôi nhìn vào hai người thủy thủ, và nói “các anh không phải là thuyền trưởng”. Ấy vậy mà người ta đã suy diễn về Phật giáo theo cách đó! Điều này thuộc về lịch sử hậu kỳ”.

“Nhưng tôi cho rằng người đàn ông đã hiện hữu, đã “là”, mặc dù không phải là những đồ vật mà anh ta đang sử dụng để làm việc. Tôi chỉ nói anh ta không phải là những thứ ấy, không phải là tâm, cũng chẳng phải là thân xác”.

Như vậy, những lời khẳng định, mà tôi dùng để giúp đỡ người này, xuất phát từ tôi, và những lời phủ định – là thứ khiến giáo pháp tôi trở nên vô giá trị -, cũng được nêu ra như là đặc thù nhất trong triết học của chúng ta”.

“Đức Gotama (Cồ Đàm) vừa thuyết giảng, vừa hoằng dương những tín ngưỡng cúng tế thần linh phổ biến đương thời”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s