Môi trường quy phạm. Yếu tố của dạng thức văn hóa quy định lối thức cư xử và quan hệ với “người mình” và “người khác mình”. Nếu theo những lý tưởng của G. Zimmel chẳng hạn, thì dân đô thị về thực chất cư xử với nhau như những “người dưng” (Zimmel, 2008). Vì vậy, cách cư xử khi quan hệ với người khác ở đô thị nên thế này: thái độ hợp tác với những người có chung cách suy nghĩ như mình và tránh xa với tất cả số còn lại (trong đó kể cả để “tiết kiệm cảm xúc và thông tin”). Trong các phương án cấp tiến nhất, một thái độ như vậy có nghĩa là sợ hãi, nghi ngại, không tin, được thể hiện ở ý muốn tạo ra một bức tường bảo vệ chắc chắn trước đủ loại mối đe dọa thực và ảo – những ổ khóa chất lượng trên cửa các căn hộ, bình xịt trong túi xách tay, chỉ đi về theo những tuyến đường quen và an toàn, sáng sủa và có người quen đi cùng… (Architecture of fear, 1997; Sennet, 2008). Đồng thời cũng nên giữ thái độ tương đối bình thường, (không vồ vập) với mọi người, đơn giản là cảnh giác với người lạ hoặc không muốn len vào thế giới riêng tư của người khác.

Có lẽ có thể coi các biến thể tiếp theo là các trường hợp có tính chất cá biệt. Chẳng hạn, có thể theo G. Hans, người đã từng nói về những khác biệt giữa những người dân đô thị “thông thường” với “người nông thôn sống ở đô thị” (urban villagers) (Gans, 1962), M. Kastells, người phân biệt giới tinh hoa “công dân thế giới” và “quần chúng bản địa” (Kastells, 1989), cuộc tranh luận giữa R. Florida và D. Kotkin về các hệ đặc tính của lớp người đại diện cho “giai cấp sáng tạo” (Gnedovskij, 2004) và… chứ không nói về các mảng văn hóa cấp nhánh của giới trẻ. Không phải ngẫu nhiên mà R. Park viết rằng “ở đô thị, được tự do, mỗi cá nhân, dù có thái độ ly tâm đến mấy cũng nhất định tìm ra được môi trường để có thể phát huy và thể hiện, bằng cách nào đó, những đặc điểm bản tính của mình… Và một cộng đồng nhỏ đôi khi bị tách xa trung tâm, nhưng đô thị lại thường bản thưởng cho nó. Rõ ràng nét hấp dẫn của đô thị là do ở đây bất kỳ kiểu cá nhân nào – một kẻ tội phạm hay một gã lang thang hay một thiên tài – cũng đều sẽ tìm thấy hội chơi của mình, và tội đồ hay thiên tài bị giam hãm trong cảnh chật hẹp tù túng của gia đình hoặc giả sử trong một khuôn khổ hẹp hơn của một cộng đồng nhỏ đều phát hiện ở đây một bầu không khí đạo đức mà nó cần để bộc lộ hết mình. Còn nói chung thì mọi ước vọng thiêng liêng và mọi ham muốn bị kìm nén đều tìm thấy ở đô thị một cách biểu đạt” (Park, 2002: 12). Tương ứng, vì mỗi xã hội, ở mức độ nào đó, đều là đơn vị văn hóa độc lập, có những chuẩn mực, quan niệm riêng của mình về bổn phận, nghĩa vụ, về sự lịch thiệp đàng hoàng và về cái xứng đáng được tôn trọng” (Park, 2002: 8), những đặc tính được nhấn mạnh của môi trường quy phạm của dạng thức văn hóa đều có thể được goi là “mẫu số chung” của tính quy phạm đô thị.

Môi trường sự vật. Nếu không nói đến khía cạnh vật chất của đô thị thì rõ ràng có thể coi chính bản thân đô thị là môi trường sự vật của dạng thức văn hóa, và sống ở đô thị có thể hiểu là tiêu dùng nó. Tuy nhiên khi nói về văn hóa đại diện nói chung và về dạng thức văn hóa nói riêng, môi trường sự vật là thuộc tính của sự vật là các dấu hiệu nhận biết, các biểu trưng thể hiện các quan niệm, là những cái cập nhật tính trình diễn trong việc sử dụng các sự vật.

Hệ đặc trưng của đô thị với tính cách là “nơi tiêu dùng” được ưu đãi – là một trong các hệ đặc tính then chốt. Đô thị thực tế đưa lại nhiều khả năng lớn để tiêu dùng, đồng thời điều muốn nói ở đây không chỉ là tiêu dùng vật chất. Đối với nhiều người, dấu hiệu nhận biết một “người đô thị đích thực, chân chính” là sự tiêu dùng văn hóa. Người ta thường cho rằng “con người (có) văn hóa” (người đô thị hiểu theo cách đối lập truyền thống thành thị – nông thôn cũng giống như là “văn hóa” đối lập với “tự nhiên”) mặc dù chỉ thỉnh thoảng “cần” đến nhà hát, rạp chiếu phim, triển lãm, đi nhà hàng, uống cà phê và… Ở đây, ý nghĩa riêng tư cá nhân của những việc đó hoàn toàn có thể giới hạn ở việc thể hiện cách tiêu dùng và đề cao cái vị thế của mình và/hoặc cái bản sắc đô thị. Ở đây, sự vật là cái tiêu biểu cho tính sở thuộc đô thị (mình là người thành phố), là thứ “đạo cụ” của sự tương tác trong sinh hoạt đời thường (Hofman, 2003; Waksteinm, 2006: Kharlamov, 2007).

Không có gì ngạc nhiên khi nền kinh tế hiện đại bằng mọi cách duy trì ham muốn tiêu dùng, đẻ ra đủ dạng mẫu “phong cách đô thị”. Người đô thị cần chăm lo cho bản thân và đời sống tiện nghi của mình mà muốn thế thì phải dùng đồ tốt, thường là có thương hiệu hàng đầu thế giới, dùng đủ loại kỹ thuật, muốn là hàng đời mới, sống ở những nơi gần sự kiện văn hóa đáng quan tâm, trang phục trước hết là hướng vào mục đích tiện dụng, đồng thời cũng thể hiện tính cách riêng (Sinozhataskaja, 2011) và… Bản thân đô thị ở đây có lẽ nói cho đúng là một thứ đồ trang trí, ở chừng mực nào đó phù hợp cho việc “hoàn chỉnh hình ảnh”. Ở đô thị có những nơi chốn mà với người này là thực tiễn đô thị, còn với người khác, lại là những cái là biểu tượng của quá khứ hoặc tương lai, và cũng là dấu hiệu (đặc tính) nhận biết – các yếu tố của môi trường đô thị “chỉ cho thấy” những ý nghĩa “đã bị quên lạng” (Serto, 2010).

Mối liên hệ giữa tư tưởng đô thị với vị thế và tiêu dùng biểu diễn là hiển nhiên ngay từ thời phát triển chủ nghĩa tư bản nếu không nói là sớm hơn thế, khi tính sở thuộc vào giới quý tộc hoặc không hẳn là để lừa người khác, hoặc vẫn là việc khó khăn như trước đây. Trong điều kiện “tầng lớp thị dân” trở thành một đẳng cấp cao sang hơn so với vị thế một nông dân, mà thị dân đây không phải là một anh công nhân, mặc dù cả hai đều là người sống ở đô thị. Các giai cấp này đối lập nhau rất rõ, đặc biệt là trong quy thức hệ tư tưởng Xô Viết.Tuy nhiên, việc người công nhân (vốn trước đây là nông dân) muốn xích lại gần hơn với phương tiêu dùng kiểu “thị dân” là điều hoàn toàn hợp logic. Từ thế kỷ XIX, từ “thị dân” đã có nghĩa không chỉ và không hẳn là đại diện của đẳng cấp tương ứng, mà chính là một kiểu cá nhân xác định có đặc điểm là tham vọng sở hữu các sự vật (mà thường là bất chấp sở thích), vặt vãnh và ky cóp, không có xác tín cứng nhắc, ý thức trách nhiệm trước xã hội, bình thản theo số đông và cuộc sống an bình không xáo động (chẳng hạn có thể xem: Gorki, 1982; Fedosjuk, 2008). Nếu thêm vào đó “tin chắc rằng lối sống và hệ giá trị của mình là tuyệt đối đúng đắn và do đó, nó có thái độ cố chấp đối với cá mục đích và sở nguyện sống khác với mình” (Tabunov, 2004) thì ta sẽ thấy một hình ảnh hoàn toàn tương hợp với các quan niệm về “con người đại chúng”, “con người một chiều” (Marcuse, 2002; Ortega-i-Gaset, 2001).

Một mặt, vì văn hóa đại chúng, nền sản xuất và tiêu dùng vốn là đặc trưng vốn có của xã hội đô thị hiện đại (Lefebvre, 1970; Kastells, 1977) nét đặc điểm này của hệ tư tưởng đô thị không có gì đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên, mặt khác, nó lại rất mâu thuẫn với các giá trị rất có ý nghĩa trước đây như thành đạt, sự tự thể hiện và… Đây là một thí dụ nữa cho thấy tính chất mâu thuẫn của hệ tư tưởng đô thị, cái thể hiện ý thức của các tầng lớp dân đô thị khác nhau, hình thành nên các phong cách sống đô thị khác nhau (Hans, 1962). Tương ứng, khó có thể coi sự mô tả của chúng ta về nội dung của văn hóa đô thị với tính cách hình mẫu để hình thành nên tính đồng bản sắc là phương án duy nhất. Nói cho đúng hơn là chúg tôi chỉ nêu lên một quan niệm chung nhất về “văn hóa đô thị”, cái có nhiều biến thể khác nhau tùy thuộc vào từng đối tượng và điều kiện tiếp cận nghiên cứu nó.

* * *

Xem xét đô thị với tính cách một dạng thức văn hóa là phương cách dù chỉ là trên những nét đặc điểm chung nhất để chỉ nội dung của văn hóa đô thị như là nguồn gốc các trị nghĩa để định hình tính đồng bản sắc đô thị. Dạng thức văn hóa trong cách giải thích của Ionin cần gồm chứa các yếu tố như môi trường quy phạm, hệ tư tưởng, môi trường sự vật, lợi ích. Hoàn toàn có thể xem đô thị là một cấu thể có các yếu tố đó. Trong trường hợp đô thị, lợi ích gắn trước hết với việc đảm bảo các cơ hội, khả năng hiện thực hóa các nhu cầu, lợi ích và mục tiêu khác nhau của mỗi cá nhân của người dân sống nơi đô thị. Điều này, đến lượt mình, cho thấy có sự hợp lý nhất định cả trong việc giải thích đô thị nói chung (hệ tư tưởng) cũng như thái độ khá bình thản (nhưng thường là cảnh giác) đối với những người xung quanh (môi trường quy phạm). Môi trường sự vật của đô thị có thể lý giải không chỉ với tính cách là “cơ sở hạ tầng” như là phương tiện duy lợi thỏa mãn các nhu cầu, mà còn như là một thứ “đạo cụ” để thể hiện và tôn vinh danh tính (dân đô thị) của mình.

Có thể xem nội dung bài viết này chỉ là “điểm xuất phát” cho các nghiên cứu khác, trong đó có các nghiên cứu kinh nghiệm. Chính là từ góc nhìn này, khái niệm dạng thức văn hóa, cũng như hệ quan niệm về sàn diễn văn hóa nói chung, theo chúng tôi, là một công cụ lý thuyết thành công trong bối cảnh phân tích bản sắc đô thị.

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TN 2014 – 5

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s