Chấp nhận lý tưởng của Upanişad về tự ngã như là giá trị tối hậu, Đức Phật đã dạy cách thể nghiệm và đạt đến được lý tưởng đó. Ngài tỉnh tiến tu tập theo giới (sĩla), định (samãdhi), tuệ (prajňa), và dựa vào tự lực hơn là các nghi thức cúng bái hay kiến thức. Tôn giáo của đức Thích Ca:

ngay từ khi ra đời, là một từ ngữ mới mẻ về một “Cái Tăng Ích” ([More]) cần được nhận biết trong bản chất và sinh hoạt của con người, con người không hẳn là một “hằng thể tĩnh tại” mà là cái đang biến dịch, và trong quá trình biến dịch, anh ta có thể đạt đến cảnh giới viên mãn như là “Cái Đó” (That) [tức là Cái Rốt Ráo (Most)]; đó là hình thức mà Thần Linh xem như là một cái nội tại toàn nhiên hiện thị, được thuyết giảng trong các tôn giáo Ấn Độ đương thời”.

Việc phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của tự ngã, và thay thế bằng giáo lý ngũ uẩn (skandha) chỉ là sự thêm thắt tùy tiện sau này.

Bà Rhys Davids gọi đó là “những lời lẽ cà lăm của giới tăng lữ”. Bà tìm kiếm và đã phát hiện ra một Phật giáo nguyên thủy hoàn toàn không liên quan gì với tín ngưỡng vô ngã, mà là một tôn giáo với đức tin thuần nhiên vào tự ngã nội tại. Bằng phương pháp nghiên cứu kinh văn ưa thích, bà tuyên bố rằng các kinh điển như Poţţhapãda và ngay cả một phần trong kinh Sãmaňňaphala cho thấy giáo lý vô ngã chỉ là sự thêm thắt về sau. Bà tách những đoạn kinh văn đó ra khỏi văn bản, và đọc lên một cách độc đoán để củng cố thêm quan điểm của mình.

Tất cả những điều này dẫn đến những kết quả quan trọng về các phương diện chú giải, lịch sử và triết học. Và việc đánh giá đúng đắn về kết quả này sẽ đem đến cho chúng ta sự thấu hiểu đầy sinh động về sự đột khởi của hệ thống triết học Trung quán.

Học phái Yoga cùng với lối sống đạo đức theo giới luật mang tính trung lập. Không còn nghi ngờ gì nữa, đức Phật và các học phái Phật giáo đã rất chú ý đến giới luật (sĩla) và thiền định (samãdhi); các pháp môn này giúp khai phá những điểm thù thắng thâm sâu hơn, vi tế hơn và cho chúng ta một bản đồ toàn cảnh của đời sống nội tâm. Tuy nhiên, với pháp môn này thì Phật giáo cũng không có điểm đặc thù mới mẻ nào. Tuy nhiên, không phải nhờ đến hai pháp môn này mà Phật giáo mới được gọi là Phật giáo. Chúng ta có tất cả những thành phần cấu tạo nên bộ giới luật trong Śikşavallĩ (Giới luật thiên) thuộc Taittirĩya Upanişad, cùng những kinh văn tương tự. Tu tập theo các pháp môn Yoga đã xuất hiện từ rất lâu, sớm hơn Phật giáo. Tất cả các văn bản còn lại đều thống nhất một điểm là bản thân đức Phật cũng theo học pháp môn Yoga với hai vị đạo sư học phái Sãmkhya là Ãlãra Kãlãma (A la la Già la ma) và Uddaka Rãmaputta (Uất đầu la Già la ma). Tất cả các học phái triết học ở Ấn Độ đều chấp nhận một nguyên lý chung, đó là: một tâm trí bất tịnh không chuyên nhất sẽ không thể nào hội được chân lý cả. Mọi học phái đều xem việc tu tập theo giới luật và thiền định như là công phu tiên quyết để đạt đến kiến giải tối hậu. Trừ những người theo duy vật luận hay những môn đồ trong học phái Mĩmãmsã, mọi học phái đều chấp nhận Yoga như một bộ phận không thể thiếu trong quá trình tu tập tâm linh, mặc dù mỗi học phái đều phát triển theo những xu hướng có đôi chút khác biệt với nhau. Về điểm này, đạo Phật chỉ khác với các học phái khác ở mức độ biến nó thành một pháp môn có tính hệ thống để hỗ trợ quá trình tu tập tâm linh. Nhưng nếu quy kết Phật giáo chỉ chuyên về kỹ thuật tọa thiền, hoặc hành trì giới luật thì sẽ không thể nào đánh giá được thiên tài độc đáo của cá nhân đức Phật cùng trí tuệ siêu việt của Ngài. Điều đó cũng không thể phân biệt được rằng ngay cả phương thức sống cũng bao hàm quan điểm về thực tại. Cái được gọi là “Sự Im Lặng” của đức Phật cùng thái độ ác cảm của Ngài đối với những học phái chuyên tư biện và lý luận không thể được viện dẫn như là bằng chứng để cho rằng Ngài không có triết học của riêng mình. Ý nghĩa đích thực về “Sự Im Lặng” của đức Phật sẽ được bàn thảo sau.

Như đã nêu, luận điểm của bà Rhys Davids đã nêu lên ba vấn đề về phương diện chú giải, lịch sử và triết học. Phần nào là phần lý giải phù hợp có thể sử dụng, để xác định chính xác nội dung của Phật điển – vốn chứa đủ mọi loại văn bản khác nhau như những lớp địa tầng đa dạng, và thuộc về những giai đoạn ít nhiều cũng đã cách xa thời kỳ đức Phật Gautama? Chúng mang tính gợi mở nhiều hơn là được hệ thống hóa, và hiển nhiên là có nhiều sự khác biệt trong giáo lý. Tuy nhiên, chúng ta không thể chỉ trích chọn ra những đoạn kinh văn có lợi cho phần lý luận của mình, rồi bỏ qua phần còn lại, và gọi đó lầ phần thêm thắt về sau được. Bởi vì ta không thể nào trích dẫn mười, thậm chí hai mươi đoạn kinh văn đối chọi với một đoạn kinh văn được trích dẫn khác, trong đó khẳng định sự tồn tại của tự ngã.

Y cứ vào những kinh văn độc lập và những kinh văn được xem là phát xuất từ ngữ cảnh đó, theo cách làm của bà Rhys Davids, cũng không phải là cách nghiên cứu có hiệu quả. Sự phân chia kinh văn thành hai phần theo niên đại: phần nguyên điển và phần bổ sung về sau, cũng chỉ mang tính phỏng đoán. Hai hay nhiều phần của Phật điển có thể mang nội dung khác biệt với nhau, nhưng nếu không có chứng cứ mang tính thuyết phục về mặt lịch sử thì cũng khó lòng khẳng định phần nào có trước, phần nào có sau. Chúng ta cần phải truy ngược lại việc thẩm định giáo lý để quyết định tính ưu tiên của các đoạn kinh văn. Thế nhưng bản thân việc thẩm định các Phật điển lại lệ thuộc vào cách phân chia phần nguyên điển của đức Phật với phần bổ sung của các luận sư về sau, như vậy lại rơi vào cái vòng tròn lý luận luẩn quẩn. Tuy nhiên, cũng phải có trường hợp ngoại lệ đối với một vài phần kinh văn mà hầu như bà đã hiểu một cách sai lệch.

Các đoạn kinh văn không cần phải được đếm số lượng mà cần phải được cân nhắc. Chúng ta phải xem xét và đối chiếu toàn bộ các nội dung văn bản và đưa đến một luận điểm tổng hợp, sau khi cân nhắc mọi phương diện. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải có một cách chú giải khái quát về Phật điển. Cần phải phân tích nội dung giáo lý và thẩm định giá trị của chúng về mặt triết học. Các cách tổng hợp giáo lý và kinh điển đã được các tông phái Phật giáo thực hiện nhiều lần. Chúng ta chỉ cần lưu ý đến ba luận điểm tổng hợp quan trọng của:

1/ Vaibhãşhika và Sautrãntika.

2/ Trung quán tông (Mãdhyamaka).

3/ Vijňãnavãda (Yogãcãra).

Mỗi tông phái đều cố gắng dung hòa tất cả kinh văn và giáo nghĩa từ những kiến giải cụ thể. Luận điểm dung hợp kinh văn và giáo nghĩa của Trung quán tông dựa trên sự phân biệt giữa Chân đế (paramartha) với Tục đế (sạmvrti); đồng thời chia kinh văn thành hai loại là: liễu nghĩa (nitarha) và bất liễu nghĩa (neyãthra). Theo Nãgãrjuna thì đức Phật thừa nhận sự tồn tại của tự ngã là để đối trị những người theo duy vật luận, bởi vì có sự tương tục của nhân quả, nghiệp báo; còn đối với những người theo Thường kiến luận thì Ngài lại phủ bác quan điểm xem tự ngã là bản thể thường hằng bất biến của họ. Ngài cũng tuyên thuyết rằng không hề có ngã hay vô ngã. Đức Phật giống như một lương y cao minh cứ tùy bệnh mà cho thuốc, đối chứng lập phương, để lời dạy của Ngài luôn khế cơ khế lý.

Đây là một phương pháp dung hợp sự dị biệt giữa kinh văn và giáo nghĩa. Quan điểm của chúng tôi là tất cả những cách giải thích kinh văn theo truyền thống đều cần phải được nghiên cứu và cân nhắc kỹ càng. Nếu cứ gạt chúng qua một bên, xem như đó là sản phẩm hậu kỳ được thêm thắt về sau, thì đó cũng không phải là phương pháp phê phán khách quan. Phật giáo và những học phái Ấn Độ khác không phải là nền triết học kinh viện theo cách hiểu người phương Tây gán cho nền thần học thời Trung cổ. Chúng chỉ có tính kinh viện theo nghĩa: lưu tâm quá mức đến những chi tiết nhỏ nhặt, và miệt mài nghiên cứu những điểm sai biệt vô cùng vi tế. Tuy nhiên, điều cũng không phải là khiếm khuyết gì quá lớn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s