Việt Nam ở vào thời điểm mà sự thành công của các cải cách kinh tế và các cải cách chính trị và quản lý đang củng cố lẫn nhau. Đối với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, việc giải quyết tham nhũng và các lợi ích bất di bất dịch từ mạng lưới các SOE vẫn đang mở rộng rút cục đòi hỏi phải giảm bớt vai trò mà nó nắm giữ trong nền kinh tế, vì các SOE vẫn chiếm khoảng 40% sản lượng kinh tế của Việt Nam. Về mặt logic, điều này cũng có nghĩa là tăng cường vai trò của khu vực tư nhân trong nước ở khắp tất cả các khu vực của nền kinh tế, và khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia các khu vực dễ có tham nhũng, chẳng hạn như cơ sở hạ tầng. Ví dụ, Chính phủ đã và đang hành động để đẩy nhanh tốc độ bán các cổ phiếu còn lại trong các SOE lớn và làm ăn có lãi hơn, chẳng hạn như công ty sữa Vinamilk – mà các mục tiêu của nó là thu hút vốn và cải thiện sự quản lý tập thể ở những công ty này. Tương tự, việc thu hút FDI trong các khu vực được cho là mang tính chiến lược đối với tái cơ cấu kinh tế – bao gồm cơ sở hạ tầng, sản xuất công nghệ cao, các ngành công nghiệp phụ trợ, công nghệ thông tin và truyền thông, và chế biến hải sản và nông nghiệp – sẽ được ưu tiên nhiều hơn trong những năm tới như một phần của những nỗ lực phối hợp nhằm tái định hình mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Chính phủ cũng đang trong tiến trình chuẩn bị cho bộ luật đầu tiên về việc hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Tuy nhiên, sự không chắc chắn xoay quanh tương lai của thỏa thuận thương mại Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Việt Nam đã ký với 11 nước khác ở Vành đai Thái Bình Dương hồi tháng 2/2016 đã có tác động gây lẫn lộn về triển vọng kinh tế của Việt Nam. Việc Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố ngay sau chiến thắng của mình trong cuộc bầu cử hồi tháng 11/2016 về kế hoạch của ông để Mỹ rút khỏi TPP đã diễn ra như một nỗi thất vọng đối với những người trong ban lãnh đạo Việt Nam đã và đang tìm kiếm một chất xúc tác mạnh mẽ cho sự cải cách, đặc biệt là những người từng làm việc tích cực trong vòng một vài năm qua nhằm thuyết phục tập thể giới tinh hoa về những phần thưởng của TPP. Các nhà lãnh đạo cấp cao, trong đó có Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, đã nói về tầm quan trọng của việc đáp ứng các yêu cầu của “các thỏa thuận thương mại tự do thế hệ mới” mà Việt Nam đã ký, bao gồm các thỏa thuận với Liên minh châu Âu, Hàn Quốc và Liên minh kinh tế Á – Âu do Nga dẫn đầu, như một trụ cột cho các cải cách kinh tế hơn nữa. TPP đã được xem như một yếu tố căn bản làm thay đổi cuộc chơi, và con đường không chắc chắn của nó ở phía trước đã dẫn đến các câu hỏi về động lực đằng sau những nỗ lực cải cách của Việt Nam trong những lĩnh vực như quản lý, thương mại, đầu tư và lao động. Thiếu sự rõ ràng từ phía Washington xoay quanh tương lai của TPP, một số thành viên trong ban lãnh đạo Việt Nam đã đề xuất nước này có thể tham gia các cuộc đàm phám về một thỏa thuận thương mại song phương mới với Mỹ, và đón chào các cuộc đàm phán như vậy với “vòng tay rộng mở”. Việt Nam đã xuất khẩu hàng hóa trị giá hơn 35 tỷ USD sang thị trường Mỹ trong năm 2016, làm cho Mỹ trước sau như một vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất cho nền kinh tế phụ thuộc vào thương mại của Việt Nam. Khi một thỏa thuận thương mại song phương được ký kết với Mỹ vào năm 2000, và có hiệu lực vào năm tiếp theo, giúp nền kinh tế Việt Nam bắt đầu “cất cánh” tại thời điểm đó, toàn bộ chính giới Hà Nội đều nhất trí thừa nhận tầm quan trọng của thương mại với Mỹ và đầu tư từ Mỹ trong sự phát triển tương lai của Việt Nam.

Phát triển hợp đồng xã hội

Chính phủ đã đương đầu với thử thách nghiêm trọng đầu tiên của họ ngay sau khi nhậm chức khi hàng trăm tấn cá chết bắt đầu trôi giạt một cách bí ẩn hồi đầu tháng 4/2016 vào bờ biển dọc 4 tỉnh miền Trung, mà ở đó người dân địa phương phụ thuộc nhiều vào nghề đánh bắt cá để kiếm kế sinh nhai. Điều xảy ra sau đó chẳng khác gì một bước ngoặt trong các mối quan hệ nhà nước – xã hội ở Việt Nam.

Các quan chức chính quyền địa phương ban đầu cố gắng gạt bỏ các mối quan ngại về an toàn thực phẩm và môi trường, ngay cả khi những hình ảnh về thảm họa môi trường – được cho là thảm họa lớn nhất tác động đến Việt Nam trong những thập kỷ gần đây – được lan truyền trên Internet và truyền thông xã hội. Nhanh chóng nảy sinh suy đoán rằng chất thải công nghiệp từ tổ hợp gang thép Formosa Plastics gần đó do Đài Loan đầu tư là nguyên nhân, một tuyên bố bị các nhà chức trách ban đầu bác bỏ. Liệu ban lãnh đạo cấp cao có nhận ra được quy mô của thảm họa này khi nó xảy ra hay có bất kỳ kế hoạch cụ thể nào để giải quyết nó hay không là điều không rõ ràng trong nhiều tuần. Trong khi đó, sự lăng mạ của người đại diện nhà máy thép này trên truyền thông Việt Nam, “Các bạn phải quyết định xem muốn bắt cá, bắt tôm hay xây dựng một ngành công nghiệp gang thép hiện đại” đã kích động sự giận dữ của đông đảo quần chúng đối với cả công ty này, vì sự ngạo mạn của họ, lẫn chính phủ, vì rõ ràng không quan tâm đến sự bất mãn lan rộng của quần chúng. Phản ứng của quần chúng là nhanh chóng và mang tính thách thức, khi các cá nhân đổ xô ra đường phố và lên truyền thông xã hội để làm rõ thông điệp của họ: “Tôi chọn cá”.

Các nhà chức trách phản ứng với cái mà vào tháng 6/2016 đã biến thành các cuộc biểu tình lớn diễn ra hàng tuần trên đường phố tại các thành phố trên khắp Việt Nam bằng chiến thuật áp chế, bắt giữ người biểu tình tại các điểm tụ tập và cáo buộc các lực lượng chống cộng đang sống lưu vong ủng hộ phong trào biểu tình này. Giới tinh hoa từ lâu đã gắn hầu hết các hình thức bày tỏ quan điểm của quần chúng với những nỗ lực có thể có nhằm phá hoại Nhà nước, vì sợ rằng các lực lượng ủng hộ dân chủ, chống Chính phủ có thể tìm cách thâm nhập vào các phong trào quần chúng và tìm cách gây bất ổn chính trị. Tuy nhiên, các nỗ lực của Chính phủ nhằm trấn áp người biểu tình và tin tức truyền thông đã không ngăn chặn được các cuộc biểu tình hay xoa dịu cảm giác giận dữ đang gia tăng trong xã hội. Xung đột về những kỳ vọng giữa nhà nước và xã hội là đáng chú ý trong suốt thời gian diễn ra sự việc này. Chính phủ, dù có hay không bất kỳ thông tin then chốt nào về thảm họa môi trường này hay một kế hoạch hành động sau cuộc khủng hoảng, đã không nhận thấy cần phải liên lạc với quần chúng. Trong khi đó, những người biểu tình và những người chỉ trích ủng hộ hoạt động tích cực cấp cơ sở, không đổ trách nhiệm cho chính phủ mà thay vì đó nói lên quan điểm của họ với hy vọng có thể khiến các nhà chức trách có một phản ứng mạnh mẽ hơn.

Văn phòng Thủ tướng cuối cùng đã thông báo vào cuối tháng 6/2016, phá vỡ sự im lặng trong nhiều tuần, rằng chất thải công nghiệp chứa chất độc xyanua mà Formosa đổ ra biển là nguyên nhân gây nên cái chết hàng loạt của các sinh vật biển. Họ cũng thông báo rằng Chính phủ đang yêu cầu công ty này bồi thường 500 triệu USD. Chính Thủ tướng kể từ đó đã tham gia giải quyết hậu quả của cuộc khủng hoảng, ra lệnh cho Chính phủ soạn thảo các cơ chế đền bù cho các hộ gia đình và doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi thảm họa này. Tuy nhiên, các cuộc biểu tình nhỏ hơn đã kéo dài đến tận tháng 10/2016.

Hợp đồng xã hội ở Việt Nam đang dần dần được viết lại. Việc giới tinh hoa cầm quyền chỉ thực hiện cam kết về tăng trưởng kinh tế không còn là đủ nữa. Tuy nhiên, phản ứng ban đầu của Chính phủ trước thảm họa môi trường này cho thấy các nhà lãnh đạo hàng đầu theo nhiều cách thức đã không quan tâm đến tình cảm của đông đảo quần chúng. Điều này có thể đặt ra một tình thế khó khăn cho ban lãnh đạo trong tương lai. Một mặt, ban lãnh đạo hiện tại muốn lấy lại lòng tin của quần chúng vào bộ máy đảng – nhà nước vốn đã và đang bị xói mòn trong những năm gần đây. Mặt khác, các nhà lãnh đạo hàng đầu theo mặc định không thể không coi sự tham gia của quần chúng trong hoạt động chính trị hay hoạt động tích cực cấp cơ sở theo bất kỳ hình thức nào là các nguy cơ tiềm ẩn đối với hệ thống chính trị. Nếu sự cố cá chết này là một dấu hiệu, thì xã hội Việt Nam nói chung vẫn chưa quan tâm đến sự thiếu đồng đều của cấu trúc chính trị hiện nay, nhưng lại kỳ vọng các chuẩn mực và trách nhiệm ngày càng cao hơn trong các vấn đề quản lý và môi trường – các lĩnh vực mà Nhà nước đã phớt lờ từ lâu.

Cuộc tranh luận về vụ cá chết hàng loạt đã nâng lên một mức khi những người biểu tình trên đường phố cũng như dân thường bắt đầu thẳng thắn đặt câu hỏi về suy nghĩ thông thường là thu hút đầu tư nước ngoài vào sản xuất bằng mọi giá và đưa ra những sự khuyến khích đối với các nhà đầu tư lớn đổi bằng môi trường và các nền kinh tế địa phương. Sự thay đổi này là đáng chú ý vì những thảo luận về giá trị của chính sách Chính phủ đối với FDI từ lâu đã bị giới hạn trong một nhóm nhỏ các học giả mà nhiều người trong số họ từng làm việc với tư cách là cố vấn chính phủ trong suốt thời kỳ đổi mới. Liệu phản ứng dây chuyền cấp cơ sở do sự cố Formosa gây ra có tác động đến cách nghĩ của ban lãnh đạo trong việc hoạch định chính sách tương lai hay không là điều vẫn cần phải xem xét.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Southeast Asia Affairs – 2017

TLTKĐB – 11/07/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s