V. Sadkov, L. Grinkevich

Các nhà tư tưởng thuộc các khuynh hướng khoa học khác nhau như các nhà xã hội học, sử học, kinh tế học, chính trị học, triết học đã cố gắng hình dung bức tranh tổng thể của nhân loại và dự báo về tương lai. Chiếm vị trí đặc biệt trong số các nhà tư tưởng trên là O. Shpengler, A. Toynbee, U. Rostou, P. Sorokin, L. Gumilev, K. Marx, F. Engels, S. Huntington và những người khác. Trong bài viết này chúng tôi cố gắng phân tích các phương pháp nhìn nhận khoa học khác nhau về quá khứ, hiện tại và tương lai của loài người gắn với các phạm trù như hình thái, văn minh, tiến bộ văn minh chung, tiến bộ xã hội.

Trong một thời gian dài, cách tiếp cận hình thái do các nhà kinh điển của chủ nghĩa Marx – Lenin đề ra được tư tưởng khoa học Xô Viết đánh giá là nền tảng phương pháp luận đúng đắn hơn cả và không sai lầm. Những cơ sở khái niệm trong lý luận của họ là như sau. Sự phát triển của xã hội mang tính chất tịnh tiến. Cơ sở phân chia lịch sử xã hội thành những cái gọi là hình thái là phương thức sản xuất, tức là hình thức liên kết đặc biệt sức lao động với tư liệu sản xuất. Có nghĩa là, hình thái kinh tế – xã hội đó là do phương thức sản xuất đang tồn tại, do đặc trưng của hệ thống các mối quan hệ sản xuất đang thống trị quyết định. Hệ thống các mối quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế, kết cấu hạ tầng hiện thực của xã hội đó. Các quan hệ pháp lý và chính trị được coi là kiến trúc thượng tầng, dựa trên cơ sở hạ tầng và cuối cùng do kết cấu hạ tầng quy định. Mức độ các quan hệ pháp lý và chính trị phụ thuộc vào kết cấu hạ tầng của chúng là không giống nhau, sự phụ thuộc đó có thể là trực tiếp hơn hoặc gián tiếp hơn.

Sau khi làm rõ một số phương thức sản xuất đặc trưng, chủ nghĩa Marx – Lenin đề xuất cách phân chia sự phát triển lịch sử của xã hội theo hình thái như chế độ công xã nguyên thủy, chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản (giai đoạn chủ nghĩa xã hội và giai đoạn chủ nghĩa cộng sản hoàn chỉnh).

Như vậy, những kết luận cơ bản của lý luận Marx là như sau:

Một là, việc phân xuất một hình thái kinh tế – xã hội nào đấy đòi hỏi phải làm rõ phương thức sản xuất tương ứng;

Hai là, trong khuôn khổ một hình thái kinh tế – xã hội không thể tồn tại một số phương thức sản xuất;

Cho dù các nước có khác nhau thế nào về thể chế chính trị, đạo đức, các hình thức hoạt động kinh tế cụ thể, nhưng nếu lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất ở cùng một trình độ như nhau thì các nước này đều thuộc cùng một hình thái kinh tế – xã hội.

Điều đó cho phép phân biệt về mặt định tính một thời kỳ lịch sử này với một thời kỳ lịch sử khác và chứng tỏ rằng lịch sử là sự thay thế của các hình thái kinh tế – xã hội, còn sự phát triển xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên. Sự thay thế các hình thái kinh tế – xã hội là do tác động của qui luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Những điểm cơ bản nêu trên của lý luận Marx – Lenin thường được truyền bá đúng theo văn cảnh như vậy và được trình bày trong phần lớn các tác phẩm khoa học của các nhà sáng lập ra lý luận này và những người kế tục họ.

Sự thay thế thế giới quan tiếp sau sự phân rã của Liên bang Xô viết đã cho phép xem xét khách quan hơn cả với lập luận lý luận của K. Marx lẫn những cách tiếp cận phân tích sự phát triển xã hội.

Những ý kiến đánh giá về chủ nghĩa duy vật lịch sử của K. Marx là rất khác nhau, từ đoạn tuyệt hoàn toàn đến nhiệt tình ủng hộ và bảo vệ.

Bị phê phán quyết liệt hơn cả là những định đề sau đây của lý luận hình thái của K. Marx:

1/ “tính có trước của sản xuất vật chất;

2/ thái độ với quan hệ sản xuất như là đối với cơ sở của cộng đồng xã hội;

3/ tính đồng nhất về thành phần của các cơ cấu hình thái;

4/ quan niệm về sự phát triển xã hội như là về sự thay thế các hình thái mang tính giai đoạn theo trật tự chặt chẽ và thái độ đối với quá trình mang tính hình thái với tư cách là phương thức triển khai sự tiến bộ”;

5/ việc Marx loại bỏ những sự biến đổi có thể trong các mô hình kết hợp lao động của con người với tư liệu sản xuất;

6/ tính sai lệch và không phù hợp của lý luận giá trị thặng dư với các hình thức và loại hình bóc lột hiện đại.

Đồng thời những cách đánh giá được coi là đúng đắn thuộc kiểu như: học thuyết của K. Marx một mặt mang tính khoa học sâu sắc và mặt khác lại bị giới hạn bởi những khuôn khổ tự nhiên của thời đại mình.

Lý luận của K. Marx đã bị “các môn đồ khoa học xã hội marxist” xuyên tạc một cách đáng kể. Nhìn chung học thuyết thực sự nguyên bản của K. Marx và F. Engels là không phù hợp với dị bản đã được du nhập vào Nga. Sự thực là “cả Marx lẫn Engels đã nhiều lần phản bác việc quy giản tầm thường quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử về quyết định luận kinh tế thô thiển, một chiều. Chủ nghĩa Marx chân chính không phủ định tính chất đa yếu tố của quá trình lịch sử, mà chỉ hướng tính đa dạng của các yếu tố này thành một hệ thống nhất định và phát hiện ra điểm nổi trội của hệ thống này là tiểu hệ thống kinh tế. Chủ nghĩa duy vật lịch sử khởi đầu, chưa bị biến dạng, thừa nhận tính chất triết học kinh viện của quá trình lịch sử, nhưng sau vô vàn những ngẫu nhiên nó đã nhận ra những quy luật nhất định và chứng minh rằng những quy luật này chủ yếu thuộc lĩnh vực kinh tế chứ không thuộc lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo hay những sản phẩm tương tự của sáng tạo tinh thần”.

Như vậy từ toàn bộ điều đã trình bày ở trên, có thể rút ra kết luận sau đây:

Cách tiếp cận hình thái đối với sự phát triển của loài người do K. Marx đề ra là cách nhìn nhận độc đáo, xin nhấn mạnh đó là cái nhìn mang tính kinh tế đối với sự phát triển xã hội, nhưng cách nhình nhận xuất phát từ sự lựa chọn thực tế những yếu tố mà K. Marx sử dụng trong nghiên cứu lại có liên quan tới và “thích hợp” với chính thời kỳ của chủ nghĩa tư bản tự do. Sau này tính hạn chế của lý luận Marx đã được khẳng định bởi toàn bộ tiến trình phát triển kinh tế – lịch sử của loài người. Không thể giải thích rõ ràng hết được những thay đổi hiện nay của đời sống thế giới trên cơ sở của lý luận này và lý luận đó không có khả năng tiên đoán được tương lai buộc phải tìm kiếm những cách tiếp cận khác đối với việc giải thích “bản chất tồn tại của con người”. Chúng ta cùng xem xét những cách tiếp cận này.

Hiện nay cách tiếp cận văn minh để nhận thức thế giới được coi là cách tiếp cận đối án với cách tiếp cận hình thái. Có thể nhận xét một cách công bằng rằng “sự loại bỏ trong một thời gian dài những khía cạnh văn minh trong sự phát triển của xã hội loài người đã làm tổn hại to lớn cho nền khoa học Nga. Kết quả là hiện tại ở Nga lý luận về văn minh chỉ tồn tại dưới dạng những quan sát và luận điểm rời rạc chứ không quy tập hợp thành một hệ thống”.

Vậy “văn minh” là gì ? Và bằng cách nào tiếp cận văn minh tạo ra được một thế giới quan chỉnh thể ?

Trước hết, cần tìm hiểu vấn đề xác định bản chất của phạm trù « văn minh ». Cho đến nay chưa có cách tiếp cận thống nhất đối với khái niệm này. Các nhà sáng lập ra lý luận về văn minh hiện đại được người ta tính đến là M. Weber, A. Toynbee, N. Danilevskij, P. Sorokin, O. Shpengler, N. Elias và một số người khác.

Tôn giáo thường được người ta coi là cơ sở hình thành và phát triển của văn minh, giữ một vai trò then chốt trong các nền văn minh lịch sử. Song nếu chỉ dựa vào việc phân xuất nền văn minh theo phạm trù này thì khó mà phân tích được các nền văn minh đa tôn giáo. Thí dụ nền văn minh Viễn Đông dựa trên ba tôn giáo là Khổng giáo, Phật giáo và Đạo giáo. Như vậy, trong phân xuất theo dấu hiệu phạm trù các nền văn minh phải tính đến cả khía cạnh địa lý và khu vực.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Việt

Nguồn: TN 2000 – 109

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s