Trong một bối cảnh khác và ở một giai đoạn ngắn của lịch sử – trong những năm 1996 – 1997, khi tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm được duy trì ở mức trên 6% trong vài năm – thì số người Ba Lan trở về nước từ nhiều vùng khác nhau của thế giới đông hơn số người khăn gói ra đi. Bởi lẽ, họ nhìn thấy tương lai sán lạn ở tổ quốc mình hơn ở những vùng đất lạ. Đó là điều quyết định. Quyết định hướng di cư không phải chỉ là điều kiện hiện tại nơi họ đang sinh sống, mà là viễn cảnh và những kỳ vọng. Sự kỳ vọng ở mức độ nào đấy luôn là hàm số của tình trạng này, mà cũng là hậu quả của sự mơ tưởng tới tương lai ở nhiều điểm khác nhau trên bản đồ. Không chỉ luôn có việc ra đi từ đâu, mà là đi đến đâu.

Không nên ảo tưởng thế kỷ XXI là thế kỷ của những đợt di cư ồ ạt. Hiện nay, khoảng 200 triệu người thường trú ngoài đất nước mà mình đã sinh ra. Số lượng những người này càng ngày càng tăng nhanh. Có những khu vực mà dân nhập cư chiếm áp đảo, tuy thế lại từ chối không cho họ nhập quốc tịch, nhiều người không có những quyền sơ đẳng nhất. Giống như ở các quốc gia Ả rập, các nước này với mưu đồ làm gia tăng sự phồn thịnh của công dân nước mình bằng cách khai thác nguồn dầu mỏ và khí đốt dồi dào và khai thác nguồn nhân công rẻ mạt đang ùn ùn kéo tới. Trong tổng số dân gần 9 triệu người của UAE, Kuwait, Qatar và Bahrain thì có đến một nửa là dân nhập cư, đặc biệt từ Châu Á (Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, Sri Lanka, Philippines và gần đây là Việt Nam). Còn có rất nhiều chuyên gia có trình độ từ Châu Âu và Bắc Mỹ. Người nhập cư chiếm khảong một phần ba dân số Bahrain và áp đảo tại Qatar và Kuwait. Tại UAE, trong số 4,5 triệu dân thì không đến 20% có quốc tịch nước này. Giới cầm quyền các quốc gia này (một cách nhanh chóng) đang nhanh chóng nâng cao mức sống của mình thông qua việc bóc lột dã man nhân công lao động nhập cư, đôi khi như đối với những kẻ bán nô lệ, họ luôn mơ tưởng và cho rằng họ có thể dễ dàng đuổi khỏi nước họ những kẻ nhập cư làm mướn khi họ không còn có nhu cầu. Ồ không. Phần lớn những người này sẽ ở lại nay đây mai đó – giống như sau khi xóa bỏ chủ nghĩa nô lệ ở Mỹ, vài triệu dân nhập cư người Phi Châu đã ở lại cùng con cháu họ, cũng như trường hợp người Hindu đã định cư ở Fiji. Họ di cư tới đó tìm việc làm trong các đồn điền trồng mía trong khuôn khổ như là tự nguyện, hợp đồng dài hạn, thông thường là 5 năm, về thực chất đấy là lao động của thời kỳ phong kiến. Thời gian trôi đi – sau khi hết hạn hợp đồng – họ phải về nước, nhưng có rất nhiều người quyết định ở lại. Hiện nay, ở Fiji khoảng một nửa dân cư ở đây có nguồn gốc Hindu. Cùng với thời gian trôi đi, những người nhập cư tại Trung Đông không có bất cứ quyền lợi gì, họ đang tranh đấu để giành quyền được cấp quốc tịch và các quyền lợi khác. Một số người trong số đó – hoàn toàn chính đáng – có cuộc sống như ở tổ quốc mình.

Đã đến thời của một cuộc di cư nữa mang tầm thời đại của các sắc tộc. Điều rõ nhất là những con đường chủ yếu của cuộc di cư sẽ là từ các nước nghèo nhất tới các nước giàu có. Họ đang di cư. Những hoạt động này ngày càng được đẩy mạnh. Một biểu hiện của sự mù quáng về chính trị là những mưu toan ngăn chặn làn sóng di cư bằng sức mạnh. Minh chứng cho sự ngạo mạn của các quốc gia giàu có là tiến hành một chính sách di cư có chọn lựa, dựa trên việc dồn người nhập cư này vào các trại tập trung và trục xuất họ, trong khi đó lại khuyến khích người kia rời tổ quốc để đến với họ. « Người này » là những người nhập cư không nghề nghiệp, nghèo khổ, không có văn hóa. Họ không muốn cho những người này vào nhà. Còn « người kia » là những chuyên gia, những người có học ở nước khác, được đào tạo bằng chi phí của nhà nước khác. Những người này có nhiệm vụ bổ sung nguồn nhân lực đang thiếu trên thị trường lao động nước họ.

Một ví dụ, chỉ trong năm 2003 nước Anh đa cấp một vài chục nghìn thị thực vào Anh cùng với giấy phép lao động cho nhân viên y tế có tay nghề chỉ từ Châu Phi : 5880 từ Cộng hòa Nam Phi, 2825 từ Zimbabue, 1510 từ Nigerial 850 từ Ghana. Phải đến một phần ba các bác sĩ đang hành nghề tại Anh được đào tạo tại những nước mà họ đã từ đó ra đi. Trong trường hợp của Tanzania, 41% những người tốt nghiệp đại học đã rời bỏ quê hương đến làm việc tại các nước phát triển cao thuộc OECD. Trong trường hợp của Angola – là 57%, còn Fiji – 62%. Ở nước nghèo Haiti – 78% và Jamaica – 81%.

Một sự bòn rút chất xám điển hình ? Không còn nghi ngờ gì nữa. Nhưng còn một cái gì đó hơn thế, bởi nó tung ra một cú huých bằng chủa nghĩa Aparthai. Khi những người mà họ cần thì khuyến khích đến nước họ, không cần để tâm tới những thiệt hại không bù đắp được, mà họ cướp được của đội ngũ lành nghề đối với nguồn vốn nhân lực của nước có dân di cư, còn những người không có tay nghề thì họ đuổi thẳng cánh, ngay cả khi những người này đã có cuộc sống yên ổn. Cần phải trả một khoản tiền lớn do bòn rút lực lượng có tay nghề, cho những nước đã đào tạo ra lực lượng này, giống như họ phải thanh toán cho việc nhập khẩu dịch vụ. Đây không còn là vấn đề cá nhân của những người di cư, bởi vì việc chuyển giao nguồn vốn nhân lực sẽ tạo ra những hậu quả ngoại vi khôn lường cho toàn bộ quá trình tái sản xuất về mặt kinh tế vĩ mô. Một điều rất bình thường là dòng di cư có tác động đa chiều mạnh mẽ tới năng lực cạnh tranh (có nghĩa là tới khả năng phát triển) của các nước « mất » và « được » đội ngũ chuyên môn.

Cần phải nhìn nhận vấn đề di cư không chỉ dưới góc độ thiết thực và văn hóa và cũng không chỉ qua lăng kính những hệ lụy mang tính kinh tế của nó. Đấy là sự nhục nhã, bởi trong thời đại toàn cầu hóa đã đạt tới mức độ sâu sắc – đã áp đặt cho thế giới, trong đó có khu vực nghèo đói, sự tự do chu chuyển hàng hóa và vốn – nhưng lại phong tỏa con người quyền được tự do di chuyển. Khi chúng ta sinh ra trên thế gian này từ động vật bốn chân và chúng ta trụ vững bằng đôi chân của mình thì chúng ta đã có quyền đầu tiên của con người : Quyền được Di cư. Mà di cư là di chuyển. Và thế kỷ XXI sẽ nhắc nhở một cách nghiêm khắc về quyền này. Không thể cấm đoán được quyền này dưới bất cứ một lý do gì. Thời đại của những rào cản, rào chắn, những bức tường ngăn cách, hào sâu và dây thép gai phải đi vào dĩ vãng, không cho phép một bóng ma nào của quá khứ hiện về. Những lời truyền giảng về dân chủ, nhân quyền chỉ mang tính khoa trương múa mép nếu từ chối con người thực hiện quyền được di chuyển. Thế giới và cuộc sống là phục vụ cho quyền này. Hộ chiếu và thị thực được một số người coi là một công cụ khác thường trói buộc con người vào một chỗ trên trái đất, đấy là chế độ nông nô dị thường hiện đại hoặc là phân biệt chủng tộc, chỉ có khác là bây giờ đang diễn ra trong ngôi làng toàn cầu. Bãi bỏ hoàn toàn thị thực là chưa thể được, cũng giống như xóa bỏ chế độ nông nô, nhưng phạm vi cấp thị thực trong tương lai cần phải hạn chế triệt để. Trong phạm vi xuyên quốc gia và toàn cầu, về lâu dài nó sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển.

Giải pháp cho những thách thức về mặt di cư của nền kinh tế toàn cầu hóa phải dựa trên những hoạt động mang tính đồng bộ và toàn diện của khu vực giàu có trên thế giới. Các giải pháp này trở thành chất xúc tác thúc đẩy phát triển kinh tế cho khu vực nghèo nàn của thế giới và tạo ra khuôn mẫu tiêu biểu về mặt văn hóa, thể chế và chính trị nhằm đón nhận làn sóng của người nhập cư.

Các quốc gia giàu có càng nhanh chóng chuyển giao một phần nhỏ GDP của mình cho các nước nghèo thì càng ít phải dùng một phần GDP này chỉ cho số người nhập cư hợp pháp và bất hợp háp đang ngày một gia tăng.

Sự đan xen của tỷ lệ sinh đẻ thấp, tuổi thọ cao và di cư đại trà sẽ gây ra áp lực mạnh mẽ và không tránh được, quá sức chịu đựng cho công tác y tế, chế độ hưu trí cùng với dịch vụ dân sinh. Điều này rát có thể sẽ mở đường cho những cuộc nổi dậy chống đối, lật đổ và cách mạng. Những chính biến này sẽ có những diễn biến và biểu hiện khác ở những quốc gia giàu có, có thể chế hoàn hảo của nền kinh tế thị trường xã hội, cũng sẽ khác ở các quốc gia đang trên đường phát triển, làm ngơ trước những yêu cầu cấp bách xây dựng một nền tảng thích hợp về mặt tài chính và thể chế trước những thách thức trong tương lai. Na Uy đã tự hóa giải được những vấn đề nổi cộm, còn Bồ Đào Nha có xử lý được không ? Nhật Bản có nhiều cơ hội để thoát khỏi hội chứng này, thế nhưng với Pháp thì sao ? Dễ dàng cho Tây Ban Nha hơn là Ba Lan, tuy nhiên hai quốc gia này sẽ phải đối mặt với những khó khăn. Nhưng không đến nỗi khó nhọc như Mexico hay Indonesia, tuy nhiên đủ nghiêm trọng để kích thích sự xuất hiện những vấn đề khác.

Một sự yên bình tương đối, trong đó việc kiểm soát tình hình di cư của dân chúng chỉ có thể được bảo đảm khi sự hạn chế được nhịp độ tăng dân số ở những quốc gia có mức thu nhập thấp. Một cách hoàn toàn lý thuyết, nếu cắt giảm nhịp độ gia tăng dân số (với giả định vẫn duy trì được mức sản xuất) đi một phần nghìn, thì mặc nhiên sự gia tăng sản xuất tính theo đầu người cũng tăng thêm một phần nghìn. Khi dân số của nước Brazil tăng không phải là 1,01 mà là 0,51% thì – với các điều kiện khác không đổi – GDP trên đầu người sẽ tăng trong năm 2007 không phải là 3,6% mà là 4,1%. Cho một năm thì mức chênh lệch không lớn, nhưng với 10 năm thì gia tăng GDP trên đầu người sẽ lên tới 7%, còn sau 20 năm sẽ là 20%. Đấy là sự chênh lệch rất lớn, có thể là yếu tố quyết định một chất lượng mới trong sự phát triển kinh tế – xã hội. Như vậy, những nỗ lực hướng tới việc hạn chế nhịp độ gia tăng dân số có ý nghĩa không kém những biện pháp gia tăng tăng trưởng kinh tế. Cả hai đều có ý nghĩa then chốt cho việc cải thiện điều kiện vật chất cho loài người. Chúng ta sẽ ra sao, điều này cũng tùy thuộc vào việc dân số trên thế giới sẽ là bao nhiêu.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s