Mọi hệ thống triết học Ấn Độ đều phát triển qua ba hoặc bốn giai đoạn nhất định.

1/ Giai đoạn đầu, có một bậc đại trí tuệ giác tuyên thuyết về cảnh giới mà ông ta đã chứng đắc; đó là thời kỳ “căn bản triệt ngộ” (mũlamantra), gợi lên nguồn thần hứng uyên nguyên, khai mở một thông lộ mới, và đặt nền tảng cho một triết học mới.

2/ Giai đoạn thứ hai là giai đoạn hệ thống hóa, xác lập những nội dung gợi mở trong kinh luận (sũtra hay kãrikã); định hình cấu trúc cho hệ thống triết học. Đây là giai đoạn biên tập, chú giải, san định, loại bỏ bớt những kinh văn trùng lặp… Giai đoạn này sẽ kéo dài nếu các môn đồ cứ sa đà vào những cuộc phê phán, tranh luận để củng cố thêm quan điểm của mình bằng cách phủ bác quan điểm của đối phương.

3/ Chỉ có giai đoạn thứ ba hoặc thứ tư mới có thể xem là mang tính kinh viện, và giai đoạn này cũng không hẳn là vô giá trị hoặc không đáng quan tâm.

Các tông phái Phật giáo đều là những thể cách thể hội trực giác ban đầu của đức Phật theo những hình thức giáo lý khác nhau. Ta không thể đạt được điều gì từ giáo lý hữu ngã của Phật giáo nguyên thủy, rồi tiếp theo là giáo lý vô ngã của Phật giáo kinh viện về sau. Thậm chí, giả sử có xảy ra một điều bất khả là người ta chứng minh được rằng đức Phật lịch sử đã từng thuyết giảng giáo lý về tự ngã, về cơ bản có khác biệt so với giáo lý mà ta thấy trong Phật giáo nguyên thủy, thì chúng ta vẫn sẽ có cách để giải thích cho Phật giáo, và phải liên hệ nó với truyền thống Upanişad. Tách biệt đức Phật khỏi việc thuyết giảng giáo lý vô ngã, điều đó có vẻ như “cứu Ngài thoát tội”. Vấn đề không còn mang tính cách cá nhân nữa. Trong nỗ lực bắt một nhịp cầu nối liền sự khác biệt giữa Upanişad và đức Phật, rất có thể chúng ta lại làm tăng thêm khoảng cách vô tận giữa đức Phật và Phật giáo. Chúng ta không thể tìm thấy một cách đầy đủ những động cơ mang tính thuyết phục về làm sai lệch giáo pháp nguyên thủy. Hoặc là giới tăng lữ ngu dốt đến nỗi không hiểu được giáo lý căn bản của bậc đạo sư, hoặc là họ thông minh đến mức có thể tạo ra một giáo lý đối nghịch và đánh tráo vào kinh văn. Cả hai điều này đều khó lòng mà nghiên cứu một cách nghiêm túc được. Giả sử có sự đánh tráo kinh văn, thì lý do vì sao và chính xác là khi nào thì điều đó không thể xác định được.

Thoạt nhìn thì các hệ thống triết học đó cùng các học phái, vốn có mối liên hệ với đức Phật, đều tuyên bố rằng mình có đầy đủ thẩm quyền đại diện và thấu hiểu Phật giáo hơn những người hiện đại, vốn đã sống cách xa đức Phật hàng nhiều thế kỷ về thời gian cũng như về văn hóa. Các tông phái Phật giáo đã bị cắt đứt với truyền thống phát triển, và hầu hết những người đứng đầu các tông phái đó đều đã thọ nhận giáo lý từ một trong những cao đồ trực tiếp của đức Phật, như các ngài Śãriputra (Xá Lợi Phất), Maudgalyãyana (Mục Kiền Liên), Kãśyapa (Ca Diếp), Ãnanda (A Nan) cùng nhiều cao đồ khác. Trong quá trình tiến hóa, một tôn giáo lớn sẽ phát triển và chú trọng đến những xu hướng vốn đã ẩn tàng trong nguồn cảm hứng ban đầu của đấng sáng lập. Trong trường hợp Phật giáo cũng vậy, chúng ta buộc lòng phải chấp nhận quy luật tiến hóa rằng: các giai đoạn hậu kỳ vốn đã tiềm tàng hàm ẩn trong giai đoạn sơ kỳ. Toàn bộ quá trình phát triển của Phật giáo về phương diện triết học và tôn giáo là một chứng cứ cho thấy cách lý giải của chúng ta về giáo lý vô ngã trong Phật giáo là đúng đắn. Không một tông phái Phật giáo nào lại không phủ nhận tự ngã, và một điều cũng chính xác không kém là không một học phái Bà la môn giáo hay Jaina giáo nào lại không chấp nhận tự ngã dưới hình thức này hay hình thức khác. Người ta có thể phản bác bằng lập luận cho rằng tự ngã mà Phật giáo phủ nhận chỉ là cái ngã vật chất cụ thể được đồng hóa với thân xác, hoặc với những trạng thái tinh thần đặc biệt, và sự phủ nhận như thế chẳng gây ảnh hưởng gì đến lập trường của các học phái Sãnkhya hay Vedãnt… Nhưng Phật giáo chưa bao giờ chấp nhận sự tồn tại của tự ngã, sự tồn tại của một thực thể thường hằng bất biến. Cái Chân Thực, theo Phật giáo, là cái Vô Thường Biến Dịch. Và bất kỳ một quan điểm nào về tự ngã đều xem nó như một bản thể bất biến. Giữa các tông phái Phật giáo đều có sự khác biệt rất lớn, tuy nhiên chúng có một điểm chung, đó là phủ nhận sự tồn tại của tự ngã. Thật là điều lầm lẫn khi nghĩ rằng các tông phái đại thừa phủ nhận linh hồn, và tái khẳng định sự tồn tại của tự ngã. Các tông phái đó còn đi xa hơn nữa khi chủ trương không chỉ con người vô ngã (nhân vô ngã: pudgala-nairãtmya) mà vạn pháp cũng đều vô ngã (pháp vô ngã: dhrama-nairãtmya), vốn là nhữg điểm mà các tông phái tiểu thừa đều chấp nhận là thực hữu.

Trong Ãbhidharma Kośa (A tỳ đạt ma Câu xá luận) – bản toát yếu vĩ đại về Phật giáo nguyên thủy – Bồ Tát Vasubandu (Thế Thân) đã dành trọn một chương để bàn luận về giáo lý vô ngã và phủ bác hữu ngã luận (pudgala-viniścaya). Nội dung chủ yếu của chương này là phê phán giáo lý “bất tức bất ly uẩn ngã” (pudgalãtman) – giáo lý đặc thù của Vãtsĩputrĩya (Độc Từ bộ). Giáo lý này chấp nhận có một tự ngã thường hằng, không đồng nhất mà cũng không dị biệt với các uẩn (shandha). Chương này cũng phủ bác kiến giải của các học phái Sãmkhya và Vaiśeşika về tự ngã. Vasubandu cho rằng đức Phật là bậc đạo sư duy nhất đề xướng giáo lý vô ngã. Phủ nhận tự ngã là nền tảng của Phật giáo qua suốt bao thời đại. Śãntarakştra (Tịch Hộ) nói rằng các triết gia ngoại đạo lý luận không vững vàng là do chấp vào tự ngã. Trong Phật giáo kinh viện về sau, nội hàm của vô ngã luận được phác thảo một cách đầy đủ và trọn vẹn; phần siêu hình học, nhận thức luận và tu tập tâm linh đều hòa hợp trọn vẹn với giáo lý cơ bản này. Người ta đã nỗ lực phát huy và đào sâu giáo nghĩa nguyên thủy của đức Phật mà không làm sai lệch ý nghĩa, cũng không ngụy tạo kinh văn.

Không phải chỉ các tín đồ Phật tử mới là những người duy nhất xem giáo lý của mình là vô ngã luận. Các hệ thống triết học của Jaina giáo và Bà la môn giáo đều cho rằng điểm đặc trưng trong giáo lý Phật giáo là phủ nhận sự tồn tại của tự ngã, bản thể hay linh hồn. Mãdhavãcãrya (Mã Đạt A Xà Lê) xem Phật giáo không khác với các nhà duy vật luận của Cãrvãka là bao. Khi sắp xếp các hệ thống triết học trong tác phẩm Sarvadarśanasangraha của mình, ông đặt Phật giáo ngay sau Cãrvãka. Bởi vì đối với các học phái hữu ngã luận thì không có gì nguy hiểm hơn là phủ nhận tự ngã. Một cách đầy ý nghĩa, Udayanãcãrya đã gọi tác phẩm Bauddha-dhikkãra (Tịch Phật luận) của mình là Ãtmatattvaviveka (Biện ngã luận) với nội dung chứng sự tồn tại của tự ngã. Chấp nhận sự tồn tại của tự ngã là điểm phân biện nền triết học truyền thống với các tông phái Phật giáo. Jaina giáo đồng ý với đặc điểm này và phân biệt rạch ròi quan điểm của họ với Dạng thức quán [Model View] của Phật giáo.

Nhà nghiên cứu hiện đại có lẽ không thấy thỏa mãn lắm với cách đánh giá Phật giáo của các Phật tử và nhiều người khác. Nhưng ông ta được yêu cầu phải ngừng, và giải thích về mối nhất quán của Phật giáo với Vô ngã luận (anãtma-vada). Anh ta cũng được yêu cầu phải nghiên cứu giáo pháp của đức Phật trong mối tương quan với các tông phái Phật giáo, mà thoạt nhìn thì tất cả đều có thẩm quyền trong việc thể hiện nội dung giáo lý của đấng sáng lập.

Còn một lý do đầy thuyết phục khác nữa khiến chúng tôi phải giải thích lập trường vô ngã luận của Phật giáo. Nếu Phật giáo chỉ lập lại truyền thống hữu ngã luận của các học phái Bà la môn giáo, thì sự đột khởi của Trung quán tông hẳn phải là điều khó hiểu. Biện chứng pháp phát sinh từ sự đối lập toàn triệt giữa hai quan điểm hoàn toàn ngược nhau. Và sự đối lập tất nhiên này chỉ có thể nảy sinh từ sự xung đột giữa hữu ngã luận của các học phái Bà la môn giáo với vô ngã luận của Phật giáo nguyên thủy. Các kinh điển đại thừa như Ratna-Kũta-Sũtra (kinh Báo Tích) (tức Kãśyapa Parivarta Ca Diếp sở vấn kinh) giải thích rõ ràng:

Cho rằng vạn pháp thường hằng là một cực đoan, cho rằng vạn pháp vô thường là một cực đoan khác…, cho rằng có tự ngã (ãmeti) là một biện kiến (antah), cho rằng vô ngã lại cũng là một biện kiến khác… nhưng con đường giữa hữu ngã và vô ngã lại bất khả thuyết… Đó là cái nhìn siêu việt về vạn pháp (dharmãņãm bhũta-pratyavekşã)”.

Con đường giữa đó là Trung Đạo (madhyamã pratipad) của Trung quán tông.

V/ Giải đáp một vài ý kiến phủ bác vô ngã luận

1/ Có một người đưa ý kiến cho rằng rất có thể đức Phật đã không thuyết pháp về giáo lý vô ngã vì Ấn Độ ở thời đó chưa đủ thuần thục để tiếp thu giáo lý này; tinh thần thời đại đương thời chống đối quyết liệt bất kỳ trào lưu tư tưởng nào đi ngược lại truyền thống hữu ngã luận của Upanişad. Hơn nữa người ta cho rằng nếu đức Phật thuyết pháp vô ngã thì chưa hẳn Ngài đã đạt được thành tựu to lớn như Ngài đã đạt được trong thuở sinh tiền.

Thật là sai lầm khi cho rằng xã hội Ấn Độ thời đó chưa đủ chín muồi về mặt triết học, và chưa được chuẩn bị đầy đủ để đón nhận một nền giáo lý mang tính sáng tạo và cách mạng. Có thể nói xã hội Ấn Độ thời đó – như được phác họa trong kinh điển Phật giáo và Jaina giáo hiện nay – là một xã hội đắm chìm trong những công trình nghiên cứu các nền triết học mang tính độc sáng vô cùng táo bạo. Những người phản bác đã không hiểu gì về sự sáng tạo thiên tài của đức Phật. Nếu quả đúng như vậy thì sẽ không thể có cuộc cải cách hay thay đổi nào nổi lên thách thức một khuôn khổ triết học được thiết lập tự bao đời.

Sự phê phán đó còn đi xa hơn khi cho rằng chỉ có những loại triết học hay tôn giáo đặc thù nào đó mới xứng đáng thành công, và mới có thể thành công. Tò mò như thế đã đủ rồi, đó là những gì mà các tín đồ thuần thành của tôn giáo khác cần phải nói, và đã thực sự nói. Nếu đức Phật thành công, thì đó là nhờ những môn đồ kiên trì đi theo con đường của Ngài để hướng tới giải thoát xả ly tất cả mọi chấp trước. Nói như thế không có nghĩa là ta chỉ có thể đạt đến giải thoát bằng con đường duy nhất này, mà có nghĩa là: đó là một trong những con đường rộng mở trước mặt chúng ta.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s