+ Kinh doanh một hay nhiều loại sản phẩm/dịch vụ?

Nếu người kinh doanh chỉ kinh doanh một loại sản phẩm/dịch vụ thì được gọi là kinh doanh đơn ngành; ngược lại, nếu người kinh doanh thực hiện kinh doanh nhiều loại sản phẩm/dịch vụ khác nhau thì gọi là đa ngành. Ví dụ, trước đây nhà máy Xe đạp Thống Nhất chỉ sản xuất loại sản phẩm xe đạp (đơn ngành), ngày nay chuyển thành Công ty Xe máy – Xe đạp Thống Nhất vừa sản xuất xe đạp, vừa sản xuất xe máy (đa ngành). Hoàn toàn tương tự, trước đây nhà máy Xà phòng Hà Nội chỉ sản xuất một loại xà phòng bánh (đơn ngành), ngày nay Công ty Xà phòng Hà Nội sản xuất nhiều loại xà phòng bánh, xà phòng bột, nước tắm, nước gội đầu… (đa ngành). Thời xa xưa, ngân hàng chỉ thực hiện dịch vụ tín dụng (đi vay và cho vay tiền); càng về sau, ngân hàng càng vươn ra thực hiện nhiều loại dịch vụ khác như đầu tư, bảo hiểm, tư vấn…

Nếu nhìn một cách tổng thể có thể nhận thấy xu hướng chung của thế giới ngày nay là các doanh nghiệp chuyển dần từ đơn ngành sang đa ngành. Tuy nhiên, muốn chuyển từ đơn ngành sang đa ngành cần phải có các điều kiện nhất định mà không phải là người kinh doanh nào cũng có. Sẽ chỉ thành công nếu người chuyển từ đơn ngành sang đa ngành đáp ứng đầy đủ các điều kiện cần có. Mọi sự phát triển theo trào lưu, không tính toán kỹ lưỡng đều dễ dẫn đến thất bại. Không phải chỉ những công ty nhỏ mà cả những công ty lớn cũng không phải bao giờ cũng có đủ điều kiện để chuyển từ kinh doanh đơn ngành sang đa ngành. Ví dụ điển hình là các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước ta trong thời gian qua đã chuyển ồ ạt theo “phong trào” từ kinh doanh đơn sang kinh doanh đa ngành. Kết cục của “phong trào” này là nhiều tổng công ty, tập đoàn kinh doanh đã rơi vào tình trạng đứng trước nguy cơ phá sản hoặc thua lỗ, tình hình tài chính rối ren,… Hãy xem ví dụ ở Hộp 1.1

Hộp 1.1 – Những sai phạm nghiêm trọng ở Tập đoàn Vinashin

NDĐT – THỜI NAY – Do công tác dự báo còn nhiều bất cập nên việc lập kế hoạch phát triển sản xuất kinh doanh và kế hoạch đầu tư của Tập đoàn Vinashin không chính xác. Các dự án đầu tư quá nhiều, dàn trải, vượt khả năng cân đối tài chính, có dự án chưa thật cần thiết, nhiều dự án chỉ được phân bổ vốn chưa đến 50% tổng mức đầu tư.

Vốn điều lệ còn hạn chế, vốn tự có trong nhiều dự án rất thấp, có dự án đầu tư bằng 100% vốn vay. Hầu hết các dự án đầu tư đều triển khai dở dang, như các dự án giải phóng mặt bằng khu công nghiệp, dự án đóng tàu xuất khẩu, những dự án này chưa đưa vào sử dụng nhưng vẫn phải trả lãi. Đầu tư cho phát triển đội tàu, trong đó có những tàu mua của nước ngoài quá cũ, hoạt động kém hiệu quả. Phát triển nhanh nhiều doanh nghiệp, góp vốn ra ngoài ngành sản xuất kinh doanh chính quá rộng, cho vay và bảo lãnh cho các công ty liên kết vay, nhiều đơn vị làm ăn không hiệu quả, không trả được nợ, không kiểm soát được. Việc sử dụng vốn không hiệu quả đã gây hậu quả nặng nề về tài chính đối với Tập đoàn Vinashin.

Để giải quyết khó khăn nêu trên, Tập đoàn Vinashin đã phải vay nợ mới để trả nợ cũ, vay ngắn hạn trả dài hạn, thậm chí lấy vốn lưu động để đầu tư. Đến tháng 6/2010, tổng tài sản của Tập đoàn Vinashin khoảng 104.000 tỷ đồng nhưng tổng số nợ là 86 nghìn tỷ đồng, vốn điều lệ thấp lại sử dụng vốn dàn trải nên tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu gần 11 lần, rơi vào tình trạng mất cân đối tài chính nghiêm trọng, đứng trước nguy cơ phá sản, sản xuất đình đốn, công nhân chuyển việc, bỏ việc gần 17.000 người, mất việc gần 5000 người.

Nguyên nhân của những khó khăn, yếu kém về khách quan do thị trường đóng tàu và vận tải biển thế giới sụt giảm đột ngột. Tuy nhiên, những yếu kém và sai phạm nghiêm trọng của lãnh đạo Tập đoàn Vinashin là nguyên nhân trực tiếp, chủ yếu. Điều đó thể hiện ở năng lực quản trị doanh nghiệp và dự báo yếu kém, trình độ cán bộ lãnh đạo quản lý không đáp ứng yêu cầu; xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch đầu tư của doanh nghiệp quá nhanh, quá nóng, không phù hợp nguồn vốn, năng lực quản lý và quy hoạch phát triển được cấp có thẩm quyền phê duyệt; quản lý đầu tư, quản lý tài chính lỏng lẻo, kém hiệu quả, nhiều quyết định trái quy định của pháp luật; tổ chức phát triển hệ thống doanh nghiệp quá dàn trải và quản lý nhân sự cán bộ không chặt chẽ. Đặc biệt là, báo cao không đúng thực trạng về sử dụng vốn, về đầu tư, về phát triển thêm doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh và tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh. Mỗi lần báo cáo số liệu khác nhau. Năm 2009 và quý I năm 2010, thua lỗ nhưng vẫn báo cáo số liệu khác nhau. Năm 2009 và quý I năm 2010, thua lỗ nhưng vẫn báo cáo có lãi. Khuyết điểm này là của lãnh đạo, trước hết là người đứng đầu Tập đoàn. Bên cạnh đó, còn quyết định thực hiện nhiều dự án đầu tư ngoài quy hoạch, không đúng quy định của pháp luật hiện hành; quyết định sử dụng vốn kém hiệu quả, có biểu hiện sai trái. Sử dụng một số vốn quá lớn để mua tàu vận tải biển của nước ngoài, trong đó có những con tàu mua quá cũ; không nghiêm túc thực hiện những ý kiến chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền.

Những yếu kém và sai phạm nghiêm trọng, nhất là về đầu tư, về sử dụng vốn của lãnh đạo Tập đoàn cộng với những yếu tố khách quan tác động nặng nề, đã làm cho Tập đoàn thua lỗ, không vay được vốn, mất khả năng chỉ trả, không còn vốn để hoạt động. Từ năm 2008, nhiều dự án đầu tư phải dừng lại, một số đơn vị ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, một bộ phận khá đông người lao động bỏ việc, mất việc.

Việc quản lý nhà nước và thực hiện quyền chủ sở hữu của Chính phủ đối với doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế nói chung và Tập đoàn Vinashin nói riêng còn nhiều bất cập, kém hiệu quả. Theo đó, thể chế về quản lý đầu tư và huy động sử dụng vốn, về thành lập mới doanh nghiệp và mở thêm ngành nghề kinh doanh, về tuyển chọn và sử dụng cán bộ của doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế còn nhiều bất cập. Thể chế, cơ chế thực hiện quyền và trách nhiệm chủ sở hữu chưa đủ rõ, còn sơ hở. Việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế là cần thiết, nhưng thể chế, cơ chế về thẩm định, kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, quản lý tài chính nội bộ hiện hành còn kém hiệu quả.

Bộ quản lý ngành và các bộ chức năng chưa thực hiện tốt việc tham mưu, đề xuất, hoàn thiện cơ chế, chính sách và chưa kiểm soát được kịp thời tình hình, chưa phát hiện được đầy đủ và ngăn chặn có hiệu quả những quyết định sai trái về đầu tư, về sử dụng vốn, về phát triển thêm doanh nghiệp và mở thêm ngành nghề kinh doanh của lãnh đạo Tập đoàn Vinashin.

Vì thế, mỗi nghiệp chủ khi khởi sự cần xem xét thật kỹ các điều kiện cần có và khả năng của mình để quyết định kinh doanh đơn ngành hay đa ngành. Vấn đề là khi mới khởi sự, nghiệp chủ hay nghĩ đến kinh doanh đơn ngành; sau này, khi đủ điều kiện cần thiết mới tính đến có phát triển kinh donah đa ngành hay không?

2.2/ Phương thức kinh doanh

Thứ nhất, xét theo quá trình kinh doanh

Có thể hiểu quá trình là sự tiếp nối liên tục có tính hệ thống các sự kiện hướng theo một mục đích nhất định nào đó. Trong một quá trình các sự kiện phải được sắp xếp một cách logic và phải thống nhất theo mục đích. Hiểu như thế, có rất nhiều loại quá trình khác nhau như quá trình sinh trưởng của sinh vật, quá trình tạo chất mới của một phản ứng hóa học nào đó, quá trình học tập hay quá trình công tác của một con người…

Ở đây, chúng ta bàn đến quá trình liên quan đến hoạt động kinh doanh: có thể có quá trình kinh doanh toàn bộ một/nhiều loại sản phẩm/dịch vụ nào đó, quá trình sản xuất một/nhiều loại sản phẩm/dịch vụ nào đó, quá trình tiêu thụ một/nhiều loại sản phẩm dịch vụ nào đó, quá trình hoạt động nào đó…

Như thế có thể hiểu quá trình kinh doanh là toàn bộ hoạt động gắn với việc kinh doanh một loại sản phẩm/dịch vụ nào đó. Mỗi quá trình hoặc bộ phận quá trình từ sản xuất đến tiêu thụ một loại sản phẩm/dịch vụ cụ thể được gọi là một quá trình kinh doanh.

Xét theo quá trình kinh doanh có thể có kinh doanh toàn bộ quá trình tạo ra và tiêu thụ sản phẩm hoặc kinh doanh một giai đoạn nào đó của toàn bộ quá trình tạo ra và cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho thị trường. Người khởi sự phải trả lời câu hỏi mình sẽ thực hiện toàn bộ quá trình kinh doanh hay sẽ chỉ đảm nhận khâu nào đó của toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s