Thay đổi nền tảng trong chính sách đối ngoại

Các nhà lãnh đạo hàng đầu ngày càng có nhận thức hơn về vai trò của chính sách đối ngoại, trong đó có đối ngoại quốc phòng, trong công cuộc hội nhập quốc tế của Việt Nam. Năm 2017, Việt Nam lần đầu tiên xuất bản Sách Xanh ngoại giao nhằm thực hiện 2 mục tiêu: làm nổi bật những đóng góp của lĩnh vực ngoại giao đến sự phát triển của đất nước trong năm 2015 và tái khẳng định hội nhập quốc tế là “đường lối chỉ đạo chiến lược” cho chính sách đối ngoại của mình trong 5 năm tới. Báo cáo chính trị được phê chuẩn tại Đại hội Đảng năm 2016 đã đi xa đến mức coi hội nhập quốc tế là “sự mưu cầu của toàn dân và hệ thống chính trị”.

Trong khi 5 năm qua tập trung mở rộng, hoặc trong một số trường hợp là xác định lại, các quan hệ đối tác nước ngoài then chốt của Việt Nam, người ta kỳ vọng Hà Nội sẽ tiếp tục tăng cường sự can dự của Việt Nam đối với các đối tác nước ngoài then chốt trong vòng 5 năm tới. Những đối tác như vậy bao gồm các nước thành viên ASEAN, Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và Australia, bên cạnh các đối tác truyền thống như Trung Quốc, Nga, Campuchia và Lào. Trong bối cảnh một môi trường khu vực liên tục thay đổi, sự hung hăng ngày càng gia tăng của Trung Quốc và sự trỗi dậy của hoạt động chính trị nước lớn ở Đông Nam Á, Hà Nội tiếp tục tập trung theo đuổi các lựa chọn chiến lược hơn trong khi tiến hành các chính sách đối ngoại của mình, thay đổi từ quan điểm thận trọng trong lịch sử đối với hợp tác an ninh với các nước lớn hơn nói chung. Tuy nhiên, một câu hỏi then chốt mà các nhà hoạch định chính sách Việt Nam đang phải đương đầu sẽ là cần khai thác đến mức độ nào các mối quan hệ đối tác chiến lược mới được thiết lập với các nước như Mỹ, Ấn Độ và Nhật Bản mà không khiêu khích Trung Quốc.

Việc Hà Nội sử dụng cảng nước sâu có vị trí chiến lược tại Vịnh Cam Ranh ở miền Trung Việt Nam nhìn ra biển Nam Trung Hoa – sau khi mở cửa cơ sở được nâng cấp cho tàu hải quân nước ngoài vào đầu năm 2016 – là ví dụ cho tính toán này. Trong thời gian trước chuyến thăm của 2 tàu chiến của Hải quân Mỹ tại cảng quốc tế Cam Ranh hồi tháng 10/2016 – do Washington coi sự tiếp cận của tàu hải quân nước họ đối với cảng Cam Ranh là “một thành tố then chốt” trong các mối quan hệ song phương Mỹ – Việt – Hà Nội đã mời tàu chiến từ Singapore, Pháp, Australia và Nhật Bản đang viếng thăm lần lần lượt cập bến tại cảng này. Sự lựa chọn thời điểm viếng thăm là một nỗ lực nhằm giảm bớt những quan ngại của Bắc Kinh về tiến độ hợp tác quốc phòng Mỹ – Việt trong những năm gần đây. Vài tuần sau chuyến thăm ngắn của các tàu chiến Mỹ mà đánh dấu việc Hải quân Mỹ lần đầu tiên trở lại vịnh Cam Ranh kể từ khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, Hà Nội lại mở cửa cơ sở của họ vào tháng 10/2016 để chào đón 3 tàu hải quân Trung Quốc cho các cuộc gặp gỡ và troa đổi trong 4 ngày giữa hải quân hai nước.

Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực hết sức của mình, các nỗ lực của Việt Nam nhằm tạo ra sự cân bằng trong cách tiếp cận biển Nam Trung Hoa của họ – một trọng tâm lớn trong chính sách đối ngoại của họ – cũng đã gặp phải những sự không chắc chắn ngày một gia tăng. Thái độ tích cực ngày càng gia tăng của Washington trên biển Nam Trung Hoa và sự hiện diện mạnh mẽ hơn của Trung Quốc trên biển này – đặc biệt kể từ khi Bắc Kinh sắp hoàn tất việc cải tạo và xây dựng của họ trên quần đảo Trường Sa – đã có tác động làm giảm tính cơ động đối với các nước nhỏ hơn trong khu vực. Liệu chính quyền mới đắc cử của Mỹ, mà sẽ đụng phải nhiều chính sách do Chính quyền Obama đưa ra, có thay đổi lập trường của Mỹ về tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa hay không hoặc sẽ thay đổi như thế nào là điều vẫn chưa rõ. Trong khi đó, điều có ảnh hưởng trực tiếp hơn là việc Tổng thống Philippines Rodrigo Duterte sẵn sàng cắt giảm những thỏa thuận song phương hay đạt được một thỏa thuận với Bắc Kinh về bãi cạn Scarborough, bất chấp thắng lợi về mặt pháp lý của Philippines được Tòa Trọng tài Liên hợp quốc công nhận trước Trung Quốc, làm suy yếu quan điểm từ lâu của Việt Nam rằng những tranh chấp trên biển Nam Trung Hoa, ngoại trừ những tranh chấp trên quần đảo Hoàng Sa, cần được giải quyết thông qua các cơ chế đa phương. Những động lực này sẽ buộc Việt Nam phải suy ngẫm về khả năng tồn tại dài hạn của các mối quan hệ an ninh của họ với Mỹ và vai trò khu vực của nước này trong việc giúp quản lý tình hình biển Nam Trung Hoa, trong đó nên có việc thông qua ASEAN.

Ban lãnh đạo hiện nay đã tiếp tục đầu tư vào việc xây dựg lại lòng tin vào các mối quan hệ song phương Trung – Việt, vốn đã chạm đến một mức thấp trong lịch sử sau cuộc khủng hoảng giàn khoan dầu năm 2014 khi mà Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu Hải dương 981 đến những vùng biển Việt Nam tuyên bố chủ quyền trên biển Nam Trung Hoa. Năm 2016 đã chứng kiến một chuỗi chuyến thăm cao cấp giữa Hà Nội và Bắc Kinh. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng Đinh Thế Huynh đều đã đi thăm Trung Quốc kể từ khi nhậm chức, trong khi một số ủy viên Bộ Chính trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng đã đến thăm Hà Nội trong suốt năm 2016. Trong một biểu hiện của việc cải thiện quan hệ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã ký các thỏa thuận bao quát về hợp tác kinh tế mà theo đó Trung Quốc cam kết giúp đỡ Việt Nam xây dựng năng lực công nghiệp và tài trợ các dự án cơ sở hạ tầng trong chuyến thăm của ông hồi tháng 9/2016. Được biết trong cuộc gặp của ông Đinh Thế Huynh với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình hồi tháng 10/2016, ông đã gọi việc thúc đẩy các mối quan hệ Trung – Việt là một “chiến lược và lựa chọn chính sách nhất quán”. Trong khi đó, lực lượng bảo vệ bờ biển của hai nước cũng đẩy mạnh tiến độ các cuộc tuần tra ngư trường chung của họ tại Vịnh Bắc Bộ trong năm 2016.

Năm 2016 đã đánh dấu đỉnh điểm của sự tiến bộ trong các mối quan hệ Mỹ – Việt theo chính sách tái cân bằng đối với khu vực châu Á – Thái Bình Dương của Chính quyền Obama. Trong chuyến thăm của Obama đến Việt Nam hồi tháng 5/2016, Washington đã thông báo quyết định của họ bãi bỏ hoàn toàn lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Hà Nội vốn kéo dài nhiều thập kỷ, sau khi nới lỏng phần nào lệnh cấm này vào cuối năm 2014. Đối với hai nước từng là kẻ thù của nhau, việc bãi bỏ lệnh cấm này là tín hiệu của sự chính thức bình thường hóa các mối quan hệ giữa hai nước. Trong khi Hà Nội tiếp tục chú trọng đảm bảo hỗ trợ kỹ thuật từ Washington về các vấn đề an ninh hàng hải, tương lai không chắc chắn của TPP lúc này thực sự khiến các nhà lãnh đạo Việt Nam thấy khó khăn hơn trong việc cân nhắc tiến gần Mỹ hơn nữa về mặt quân sự. Không có một cảm nhận rõ ràng hơn về điều sẽ xảy ra trong tương lai và mức độ cam kết của Mỹ đối với vai trò lãnh đạo kinh tế và an ninh của nước này ở châu Á, mối quan hệ đối tác Mỹ – Việt có thể có nguy cơ mang tính tượng trưng nhiều hơn là thực chất trong những năm tới.

Nguồn: Tạp chí Southeast Asia Affairs – 2017

TLTKĐB – 11/07/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s