Nếu như có một bài học nào đó mang nhiều ý nghĩa hơn mọi bài học khác mà lịch sử triết học và tôn giáo đã dạy cho chúng ta, thì đó là điều này: sự khác biệt giữa các hình thái tư tưởng là điều tất nhiên và không thể loại bỏ được. Luôn luôn có những người tán đồng lẫn những tín đồ nhiệt tình trong các hệ thống triết học và tôn giáo đặc thù. Có lẽ sẽ đúng hơn nếu ta chấp nhận rằng có một vài hình thức triết học và tôn giáo cơ bản; và con người tùy theo căn tính và cơ duyên của mình mà thấy gắn bó với hình thức này hơn là các hình thức khác. Việc chối bỏ sự phán quyết này của lịch sử cũng chẳng phải là do thiển cận về tri thức, mà do thiếu tính khoan dung lượng thứ. Phâ tích cho cùng kỳ lý thì chúng ta chấp nhận quan điểm nào: chỉ có một con đường duy nhất dẫn đến Thực Tại, hay là có nhiều con đường cùng dẫn đến một đích chung? Nếu chấp nhận quan điểm thứ nhất thì việc phê phán Phật giáo là điều có thể biện minh được; thế nhưng lại không có gì có thể biện minh cho chính sự phê phán. Nếu cứ khư khư cố chấp cho rằng duy nhất chỉ có con đường của mình mới dẫn đến đích, còn những con đường khác đều lầm lạc, thì đó cũng là cách nhìn võ đoán một chiều.

Nếu chấp nhận có nhiều con đường khác nhau thì phải chấp nhận sự khác biệt trong quan điểm, nhưng không có sự khác biệt trong mục tiêu tối hậu. Hơn nữa, chọn lựa con đường đi cho mình để rồi loại bỏ tất cả những con đường khác, đó không phải là vấn đề của lý luận mà của căn cơ tâm linh. Người ta có thể gặt hái nhiều thành công trên con đường này hơn là con đường khác. Lý luận chỉ đến sau, khi đã chọn lựa xong; đó là nỗ lực kiên trì để tiếp tục đi trên con đường đã chọn để khỏi vô tình lạc nẻo vào con đường khác. Các cuộc tranh luận – mà thoạt nhìn bề ngoài có vẻ như muốn phủ bác và phá bỏ luận điểm của đối phương – có ý nghĩa như là sự xác lập và phân biệt mô hình về thực tại và phương luyện tâm của mình khác với học phái khác, vốn dễ gây nên sự lẫn lộn. Tuy nhiên, không cần phải lo là chúng ta không có cách nào để phân biệt những kiểu mẫu tâm linh thiết yếu với những thứ giả mạo; vì những thứ giả mạo đó sẽ bị đào thải một cách tự nhiên, và không có ai đi theo nữa. Những thủ đoạn dùng ngôn ngữ và những lời hứa hẹn hão huyền để mê hoặc quần chúng cũng có thể giúp cho là thuyết phục phát triển mạnh mẽ như những học phái chân chính, chúng ta cần cảnh giá điều này. Nói tóm lại, tiêu chuẩn để xác định tính chân thực của một pháp môn tu tập là ở sự tự chứng nghiệm nội tâm về cái Như Thực. Mọi học phái đều chấp nhận điều này như là tiêu đích cuối cùng.

2/ Cũng có ý kiến cho rằng đức Phật là đạo sư thực tiễn; Ngài tránh né luận bàn về mọi lý thuyết viển vông vô ích, vì cho rằng nó chẳng có lợi gì cho đời sống tâm linh. Chứng cứ cụ thể nhất là lời Ngài quở trách các tôn già Mãlũnkyaputta và Vaccah Gotta. Có thể kết luận rằng đức Phật luôn giảng dạy một phương thức sống bằng phương pháp trùng tuyên, song lại không quan tâm đến việc nêu quan điểm về thực tại. Ngài chỉ thuần túy bàn về đạo đức, và gác vấn đề siêu hình học qua một bên. Những tín đồ tán đồng quan điểm này lại đi xa hơn khi cho rằng tông pháp Phật giáo về sau cứ xoay quanh vấn đề siêu hình học, và làm sai lệch chính pháp của đấng Đạo sự. Ngài không hề thuyết giảng về các vấn đề mang tính siêu hình, thậm chí cũng chẳng hề ám chỉ đến chúng.

Liệu chúng ta có thể có được một phương thức sống mà không cần đến quan điểm về thực tại chăng? Liệu có thể nào đi theo một lý tưởng hành xử được xem là trung thực với toàn thể con người, mà lại không đặt ra những câu hỏi, dù chỉ là ám chỉ, về giá trị tối hậu, về bản chất và số phận của người đang tu tập, cùng mối tương quan của anh ta với lý tưởng đó chăng? Học phái Mĩmãmsã bề ngoài có vẻ như quan tâm đến pháp (dharma) – mà họ cho là các nghi thức hiến tế thần linh – cho rằng việc thâm cứu pháp như thế sẽ dẫn đến những tri thức về tự ngã, về bản chất của nghiệp… Họ đã nỗ lực để xác lập một Thực tại luận [Realism]. Ở phương Tây, các học phái Khắc kỷ [Stoicism] và Hưởng lạc [Epicureanism] đều bắt đầu như những học phái chuyên về đạo đức, song trong học thuyết vẫn bao hàm những vấn đề siêu hình học.

Các mô thức chính trị hiện đại về đời sống như chủ nghĩa phát xít hoặc chủ nghĩa cộng sản đều hàm chứa những yếu tố triết học rất rõ nét. Chúng có thể mang yếu tố duy vật hoặc một yếu tố gì khác, song vẫn bao hàm một nền triết học về cuộc sống và giá trị. Một người bình thường có thể không quan tâm lắm vấn đề triết học, anh ta không có cơ hội hoặc khả năng để định hình nên một hệ thống triết học, tuy nhiên cách hành xử của anh ta vẫn bao hàm một thế giới quan.

Sự chọn lựa không phải diễn ra giữa một bên có siêu hình học và bên kia không có, mà là sự chọn lựa giữa thiện và ác, giữa đúng và sai. Có thể có những nền triết học mang tính tư biện và không hề có một quan điểm về đạo đức, nhưng điều ngược lại thì không bao giờ có. Nếu không thể có một phương thức sống mà không cần đến một quan điểm về thực tại – nghĩa là một nhân sinh quan và một thế giới quan – thì đức Phật cũng không thể không có một nền siêu hình học. Đặc điểm của các hệ thống triết học phương Tây mang tính tư biện, với rất ít ngoại lệ. Là một món đồ chơi thuần túy của trí tưởng tượng, chúng không dẫn đến sự tu tập tâm linh, và cũng không thể song hành với bất kỳ một phương thức sống nào. Không một nền triết học nào ở Ấn Độ lại mang tính tư biện thuần túy. Mỗi một nền triết học đều là một darśana, là sự trực kiến vào Thực Tướng, vốn là cái đưa đến sự hoàn thiện và chấm dứt khổ đau.

Đức Phật trong kinh tạng Nikãya có vẻ như quá quen thuộc với các hệ thống triết học và xu hướng của các học phái đương thời lẫn cổ đại. Ngài chối bỏ những thứ đó vì chúng khác với con đường giác ngộ viên mãn mà Ngài đã tự chứng, tự ngộ. Há điều này lại không có nghĩa đức Phật hiểu rất rõ rằng: một phương thức sống luôn bao hàm một nền siêu hình học?

Việc trí giới và thiền định tự bản thân chúng không phải là cứu cánh. Chúng chỉ là phương tiện giúp chúng ta quán chiếu vào thể tính của Thực Tướng. Đức Phật đả kích kịch liệt những kẻ câu nệ một cách máy móc vào nghi thức và giới luật khắt khe để tu tập (śĩlavrata-parãmarśa). Giới luật của đức Phật cũng không khác với giới luật của những tông phái khác nếu như không có diệu dụng của Prajňa (Bát nhã, Trí tuệ) đi cùng. Và chính Prajňa đã đem lại tính thống nhất và duy nhất cho công phu trì giới. Không chỉ có thế Prajňa còn là thứ giúp tựu thành viên mãn mọi công phu đạo hạnh. Một người không thể được xem là có đạo hạnh viên mãn hay được giải thoát hoàn toàn nếu không có Prajňa. Prajňa khiến cho đời sống tâm linh trở nên dễ dàng và tự nhiên. Mọi học phái khác đều chủ trương điều này, như Sureśvarãcãrya (Tô Thụy Oa A Xà Lễ) đã nói: “Đối với hành giả đã liễu ngộ được tự ngã, thì tâm từ bi vô sân hận cùng bao đức hạnh khác sẽ đến một cách tự nhiên, không cần một chút dụng công nào”.

Luận sư Saa4ntideva (Tịch Thiên) bàn về vai trò của Prajňa như sau: “Trì giới cùng thiền định cũng chỉ là để đạt đến giác ngộ hya Prajňa mà thôi”. Aştasãhasrikã (Bát thiên Bát nhã tụng) nói về Prajňa như là pháp môn đứng đầu mọi Pãramitã (Ba la mật). Các pãramitã khác đã không thể thành tựu viên mãn nếu không có Prajňapãramitã (Bát nhã Ba la mật). Kẻ nào không tin và Tánh Không (śũnyatã) của vạn pháp thì sẽ không thể nào tu tập trì giới và thiền định đạt đến kết quả rốt ráo được. Anh ta sẽ đâm ra ngần ngại, e dè. Do đó, không thể nào có một công phu trì giới nào thuần túy trì giới mà lại không có một nền tảng siêu hình học.

3/ Cho đến lúc này, sở dĩ những học phái khác đả kích nặng nề giáo lý vô ngã của đức Phật là vì nhận thấy giáo lý đó mâu thuẫn với những giáo lý khác của Ngài, vốn đã được chấp nhận như giáo lý cơ bản, đó là giáo lý về nghiệp, về quả vị tu chứng và quả báo luân hồi. Nghiệp mà không có một chủ thể thường hằng bất biến đứng ra thọ nhận quả báo thì điều đó không sao hình dung được. Đâu là giá trị của sự tu chứng, nếu như rốt cuộc chẳng có một cái gì? Giáo lý của đức Phật là chấp nhận khổ đau, mà lại không hề có một chủ thể nào thọ nhận sự khổ đau đó, chấp nhận có quả vị tu chứng mà lại không hề có một chủ thể tu chứng, và cũng không hề có một ai thọ hưởng cảnh giới hỷ lạc của Niết Bàn. Những điểm vô lý đó đối với đức Phật dường như chẳng có gì là nghiêm trọng.

Bản thân đức Phật hiểu rất rõ những điểm bị xem là vô lý này. Trong một đoạn kinh văn, điều này được phát biểu: “Có hành động nhưng không có tác giả”. Trong bài thuyết pháp về người mang nặng phiền não, Ngài nói lại rằng ngũ uẩn (paňcopãdãna shandhãb) là gánh nặng gây nên phiền não, tham chấp vào chúng là chuốc lấy phiền não, xả ly được chúng là trút bỏ phiền não, còn kẻ mang nặng phiền não chính là cá nhân thường nghiệm [empirical individual].

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy của triết học Phật giáo – NXB HĐ 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s