Trong các học thuyết tiến hóa, sự hình thành nền văn minh có nghĩa là đạt đến một trình độ phát triển nhất định về xã hội và văn hóa đối lập với sự dốt nát và dã man.

Có thể nêu ra các biến thể sau đây của khái niệm “văn minh”:

1/ Dưới dạng chung nhất, “văn minh – đó là một giai đoạn nhất định trong sự phát triển của loài người, kế tiếp theo sau cái gọi là các kỷ nguyên man rợ và dã man”. Nói cách khác, “văn minh chỉ có nghĩa là một kỷ nguyên nhất định trong sự phát triển lịch sử (về kinh tế, xã hội, văn hóa – tâm lý) của xã hội”.

2/ “Văn minh – đó là những thành tựu của loài người, bảo đảm cho sự tiến bộ của loài người, đi từ trạng thái động vật và sau đó là từ giai đoạn man rợ và dã man tiến đến các hình thức sống đặc biệt mang tính con người. Các thành tựu văn minh có liên quan đến cả chiếm lĩnh giới tự nhiên bằng công nghệ lẫn sự hoàn thiện công việc điều tiết các mối quan hệ xã hội”.

(Đây là cách tiếp cận hẹp hơn đối với việc định nghĩa phạm trù khi nền văn minh được quan niệm “theo nghĩa thể hiện sự tiến bộ về văn minh, vốn được hiểu như là sự hoàn thiện xã hội và được đồng nhất, về thực chất, với tiến bộ xã hội”.

3/ Văn minh – đó là “một kiểu xã hội mang tính lịch sử nhất định” hay là “một cộng đồng những con người hay những đất nước có tính chất xã hội văn hóa bền vững nào đó. Cộng đồng này bảo tồn được sự đa dạng, tính độc đáo của mình trong những thời gian dài lịch sử, bất chấp tất cả những biến đổi mà nó phải trải qua”. A. Toynbee có quan điểm gần với khái niệm văn minh này. Đối với ông, văn minh là một kiểu xã hội mang tính lịch sử nhất định, được đặc trưng bởi sự thống nhất văn hóa, tôn giáo mang tính lãnh thổ và bởi những khuôn khổ thời gian nhất định.

4/ Theo quan điểm của S. Huntington thì văn minh được so sánh với văn hóa. “Chúng ta có thể định nghĩa văn minh như là cộng đồng văn hóa cấp cao nhất, như là trình độ đồng nhất văn hóa cao rộng nhất của con người”.

5/ “Văn minh” được sử dụng theo nghĩa đặc tính của nền văn hóa; học vấn của những nước tiên tiến nhất.

6/ “Khái niệm văn minh được lý giải như là sự khu biệt văn hóa xã hội giữa các loại hình của một mẫu xã hội cụ thể đã xuất hiện trong lịch sử (thí dụ như văn minh kiểu truyền thống và văn minh công nghệ).

7/ Văn minh được hiểu như là hệ quả logic, sự hoàn thành và kết thúc của một nền văn hóa.

8/ Theo lập trường của N. Danilevskij, văn minh – đó là các loại hình lịch sử văn hóa mang nguyên tắc hình thức.

9/ Theo quan điểm của P. Sorokin, văn minh – đó là những siêu hệ thống văn hóa lớn có ý nghĩa trung tâm hay trí tuệ.

Như vậy, sự phân tích trên đây cho phép rút ra những kết luận sau đây:

Tất cả những quan niệm khác nhau về việc xác định thực chất của phạm trù văn minh có thể quy thành hai hướng lớn.

1/ Cơ sở của cách phân chia văn minh loài người là những cái gọi là yếu tố kinh tế – xã hội, như: trình độ chiếm lĩnh giới tự nhiên bằng công nghệ, những khác biệt trong công nghệ, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và tiếp đến, là trình độ phát triển và đặc điểm của các mối quan hệ xã hội trong xã hội. Sự phát triển của loài người, về cơ bản được hiểu là sự chuyển động tịnh tiến, là con đường “dạng dây băng” hay “dạng giun” như O Shpengler từng phê phán. Theo các quan điểm này thì cách tiếp cận hình thái của K Marx, về tiêu chí cơ bản của mình, có thể được xếp vào những diễn giải khác nhau của cách tiếp cận văn minh.

Dĩ nhiên những chi tiết thì khác nhau. Hay như V. Studencov nhận xét “các khái niệm “hình thái” và “văn minh”… khái quát sự phát triển của xã hội từ các hướng khác nhau và trong các hệ tọa độ khác nhau”. Tất cả điều đó đã giải thích sự rất khác nhau của các cách phân loại xã hội. Người ta phân chia các nền văn minh thành:

a/ địa phương, đặc biệt và toàn thế giới;

b/ tiền công nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp (thông tin);

c/ truyền thống, công nghệ và khác nữa.

2/ Nền tảng của hướng thứ hai là nền văn hóa của một xã hội nhất định, nền văn hóa này độc lập một phần so với các yếu tố khác (kinh tế – xã hội, chính trị) và trong tương lai sẽ xác định “các đường gãy cơ bản” của loài người, số phận của các thiết chế xã hội, “sự đối thoại của các nền văn hóa”, và nó đã và sẽ còn đem lại cả một “bó văn minh”. Tính phổ quát của những cách tiếp cận này là như sau:

Một là, tuyệt đại bộ phận các nhà nghiên cứu đều nhấn mạnh “tính nhiều phương án của sự phát triển loài người”, “tính không thuần nhất của thế giới”.

Hai là, “chối bỏ quyết định luận kinh tế hay quyết định luận công nghệ trong việc thiết lập các mối liên hệ nhân quả trong sự phát triển của xã hội loài người”.

Ba là, khả năng thâm nhập lẫn nhau và phụ thuộc lẫn nhau của các nền văn hóa trong không – thời gian.

Cách tiếp cận như vậy cho phép hình dung bức tranh toàn diện và bao trùm của thế giới trong quá khứ và hiện tại và vạch ra bức tranh tương lai, dù chỉ là tương đối. Theo hướng này thì các công trình của các nhà sử học, triết học được đánh giá là công phu hơn cả.

Song xét trên quan điểm này thì tương lai thực tế lại là khâu yếu nhất trong tất cả các cách tiếp cận.

Nói về nền văn minh bao giờ người ta cũng ngụ ý nói tới con người, thêm nữa đó là người – Homo Sapience sử dụng công cụ lao động đầu tiên và mở ra con đường phát triển lực lượng sản xuất trong xã hội.

Dĩ nhiên các quan điểm của Marx, Rostou, Commos đều không đụng chạm tới tính đa yếu tố của loài người. Còn nếu theo quan điểm thế giới quan kinh tế thì sự phát triển của xã hội hay là sự tiến bộ của loài người, nếu muốn nói như vậy, là con đường tiến lên tất yếu. Và ở đây điều quan trọng không chỉ bởi đó là “sự thay thế hoàn toàn một hình thái này bằng hình thái khác” hoặc là “sự pha trộn, sự hạn định trường hoạt động” của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất cũ bằng những hình thức mới.

Chính sự gia tăng đột ngột vai trò của nền kinh tế trong đời sống các nước riêng biệt và của cộng đồng thế giới đang làm cho sự phân tích hiện đại trở nên phức tạp và lẫn lộn. Yếu tố này được nhấn mạnh nhiều lần trong nhiều công trình nghiên cứu. Thí dụ các phạm trù mang tính khái niệm “địa kinh tế”, “địa chính trị” có liên quan chính là tới các quá trình này: “Hiện nay ảnh hưởng của các quá trình kinh tế đối với sự tiến triển của tình hình địa chính trị trên hành tinh đang gia tăng đột ngột: đang diễn ra toàn cầu hóa các quá trình kinh tế (thương mại quốc tế, chu chuyển tư bản và đầu tư xuyên quốc gia, sự chuyển động của các lực lượng lao động, trao đổi thông tin và công nghệ cao, điều tiết ngoại tệ); sự thâm nhập đang gia tăng của các quá trình kinh tế vào các lĩnh vực phi kinh tế thuộc đời sống quốc tế; xung đột kinh tế được đẩy lên hàng đầu trong số các nhóm xung đột tiềm tàng”.

Như vậy, loại bỏ hoặc cào bằng ảnh hưởng của của các yếu tố kinh tế đối với đời sống và động thái phát triển xã hội đều là sai: “Trong hệ thống này thì nền tảng kinh tế là quan trọng nhất. Không phải bởi vì nền tảng này dường như định trước sự vận động của tất cả các hệ thống khác của xã hội (chúng khá độc lập), mà bởi lẽ nền kinh tế tạo ra điểm tựa khởi đầu”. Trong trường hợp này chúng ta buộc phải thừa nhận thứ bậc nhất định trong sự phát triển của loài người nói chung. Đúng là văn hóa phân cách con người, cản trở sự liên kết vô điều kiện của họ, trên quan điểm văn hóa có thể giải thích một cách logic sự hưng thịnh và diệt vong cảu các nền văn minh, sự đi chệch và tính không điển hình của chúng. Nhưng khi đó cung vẫn chưa đụng chạm tới những vấn đề cấp thiết nhất của sự tồn tại của loài người, – trước hết là sự xung đột của bộ ba: giới tự nhiên – xã hội – con người. Chính vấn đề về ý nghĩa và tính tất yếu của sự vận động đi lên phía trước, của sự phát triển, hoàn thiện cũng đặt ra chính câu hỏi như vậy. Để làm gì? Nếu kết cục là “sự cáo chung” hay là “hoàng hôn” của một nền văn minh?!

Song cũng không thể giảm nhẹ được ý nghĩa của văn hóa, bởi lẽ văn hóa khái quát những định hướng giá trị của sự phát triển loài người và cuối cùng là xác định hướng vận động của xã hội, thái độ của xã hội đối với mục đích cuộc sống, đối với thế giới xung quanh. Thêm nữa càng ít bị lệ thuộc vào các mặt tiêu cực của các yếu tố kinh tế, xã hội càng có nhiều khả năng phát triển về tinh thần và văn hóa.

Như vậy, “tồn tại xã hội phát triển với tư cách là một quá trình lịch sử – tự nhiên, thể hiện tính hai mặt và sự tác động qua lại giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần. Mỗi yếu tố này có tính độc lập tương đối, điều này mang lại cho nó tính chất động lực của lịch sử.

Khi tư tưởng khoa học chân chính vượt trước các điều kiện phát triển khách quan của xã hội thì sẽ đẩy nhanh tiến trình lịch sử. Khi còn những quan điểm sai lầm, không đúng của các nhà hoạt động nhà nước hay của đông đảo quần chúng  thì dẫn đến không chỉ những hiện tượng trì trệ mà cả sự biến dạng và những vận động thụt lùi trong phát triển xã hội”.

Viễn cảnh tương lai của từng nền văn minh riêng hay của nền văn minh thống nhất “toàn thế giới” là hết sức đa dạng.

(còn tiếp) 

Người dịch: Đỗ Việt

Nguồn: TN 2000 – 109

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s