Việc tiến hành thực hiện thành công chương trình có tên Không có Nạn đói (tiếng Bồ Đào Nha là Fome Zero) mang một ý nghĩa rất quan trọng. Chương trình này tiến hành dựa trên cơ sở cấp phát cho những gia đình nghèo một khoản tiền khiêm tốn là 60 hoặc 120 reali, khoảng 31 hay 62 USD theo tỷ giá thị trường hay 53 hay 106 USD tính theo PSN. Trong trường hợp thứ nhất, khoản trợ cấp này được đưa tới tay những gia đình nghèo nhất. Trong trường hợp thứ hai, cho các gia đình có con cái ở độ tuổi dưới 15, với điều kiện gia đình phải cho con đi học. Trong tất cả các trường hợp phải đi tiêm chủng và được cấp giấy chứng nhận tiêm chủng. Một biện pháp đơn giản như thế (tuy nhiên về mặt logic thì không dễ dàng chút nào, khi lưu ý tới tình trạng hạ tầng kém cỏi và mạng lưới dịch vụ lạc hậu), mà có thể cải thiện được rất nhiều.

Điều đó đòi hỏi phải có chi phí. Vậy thì tiền ở đâu ra ? Đây chỉ là chiếc móng tay của khoản tiền lớn như bàn tay, mà nhiều quốc gia cho quốc phòng hoặc thất thoát và lãng phí trong nền hành chính quan liêu. Vậy thì có lý do để tiết kiệm. Không phụ thuộc vào điều đó, đây chính là mảnh đất để xã hội quốc tế thể hiện. Việc các nước G7 và Liên minh châu Âu tăng thêm khoản tiền cho các nước nghèo, chiếm một phần không đáng kể của một phần nghìn GDP cho mục đích này (được khoảng 33 tỷ USD) có thể làm thay đổi bộ mặt thế giới. Không cần thiết dùng ngay cho nhu cầu con người, nhưng ít ra cũng sáng sủa hơn và thoát khỏi nạn đói. Nếu áp dụng tiêu chuẩn của Brazil, thì khoản viện trợ đó có thể giúp nửa tỷ gia đình trên thế giới cho con cái đi học và tiêm chủng chống lại nhiều loại bệnh khác nhau. Liệu có đơn thuốc nào cho sự phát triển và cuộc chiến chống đói nghèo tốt hơn một thế hệ trẻ khỏe mạnh hơn và có học vấn tốt hơn ?

Những con số lớn đều mang ý nghĩa của mình, nhưng những con số nhỏ lại mang ý nghĩa sâu rộng hơn. Một phần nghìn mang ý nghĩa gì đối với phía của những người tạo ra nó ? Là khoản hàng tháng không đến 4 USD trên đầu người tại Mỹ. Ở phía bên này cần phải có sự mong muốn, còn ở phía bên kia cần có những người như tổng thống Brazil – một cách chính xác – một ý tưởng lý thuyết, một ý chí chính trị và một kỹ năng thực tiễn cho việc giải quyết vấn đề về phát triển. Khi đó không chỉ có thể nói « không thể tiếp tục như thế này được », mà còn chờ đợi để nó không diễn ra.

Thật đáng ngạc nhiên khi chỉ có thể làm được ít đến vậy, mặc dù :

+ kiến thức đồ sộ trong lĩnh vực kinh tế học phát triển,

+ hàng loạt những kinh nghiệm quý báu với thực tiễn giải tỏa các hàng rào tăng trưởng,

+ thành quả hiện tại trong việc hạn chế quy mô đói nghèo,

+ toàn bộ nguồn tài nguyên và những nguồn dự trữ vốn tư bản chưa khai thác đến, tập trung ở một số khu vực trên thế giới.

Cần phải hiểu rằng, cần phải muốn, cần phải có động cơ thúc đẩy thực sự để tiến hành hành động. Một bên phải có mong muốn không tiếc 4 USD, còn phía bên kia phải có khát vọng đứng ra tổ chức việc « tiêu hóa » hàng triệu và hàng tỷ USD viện trợ. Điều cuối cùng, những nước nhận viện trợ phải tiến hành những nỗ lực to lớn, để những khoản viện trợ không bị thất thoát. Việc giải quyết các vấn đề đòi hỏi sự hiệp lực của tư duy, về thể chế và về chính sách. Trong vấn đề này, không có gì hữu ích hơn là khai thác một cách khôn khéo thuyết trùng hợp ngẫu nhiên của sự phát triển, tuy nhiên thảng hoặc – trong những vấn đề nhỏ lẻ – đơn giản chỉ là cần lý trí lành mạnh và tính trung thực. Sự thiếu hụt hai đặc tính này là rào cản lớn nhất trong cuộc chiến chống đói nghèo và chống lại sự bất công mang tính triệt tiêu sự phát triển.

* * *

Phần thứ chín của những nghiên cứu về tương lai của chúng tôi – có ý nghĩa rất quan trọng cho sự hình thành quá trình vận động của tương lai, đó là sự tiến bộ trong lĩnh vực giáo dục và khoa học cùng với xây dựng trên thế giới những cứ điểm cho nền kinh tế và một xã hội tri thức. Một mặt, việc mở rộng và xóa bỏ rào cản trong giáo dục sẽ tạo thuận lợi cho hàng tỷ người dân trên trái đất được tiếp cận với nguồn thông tin và tri thức, mà không chỉ là giá trị tự có mà còn là công cụ quan trọng cho sự tiến bộ về kinh tế. Mặt khác, phạm vi hoạt động kinh tế của con người ngày càng dựa trên nguồn tri thức sẽ làm biến đổi phương thức vận hành xã hội.

Không chỉ có sự tồn tại mới quyết định ý thức, như Hegel và Marx đã dạy, mà ngược lại. Ý thức – đặc biệt là về mặt văn hóa của nó – có tầm ảnh hưởng không nhỏ tới trạng thái nền kinh tế và sự phát triển của nó, tức là tới điều kiện vận chất của sự tồn tại. Bằng những đường phản hồi ngược mạnh mẽ thì thường lệ thuộc mang tính nhân quả này sẽ ngày càng được đẩy mạnh trong tương lai. Điều này xuất phát từ vai trò của tri thức ngày càng gia tăng trong những quá trình sản xuất. Đặc biệt khoa học mà từ hàng mấy chục năm nay được coi là yếu tố trực tiếp tạo ra của cải vật chất, ngày càng có vai trò to lớn hơn. Còn tri thức là một trong những thành phần chủ đạo của ý thức xã hội. Tôi đang suy nghĩ, tức là tôi đang tồn tại. Đấy là sự thật. Tôi biết, vậy thì tôi có thể làm được đấy. Đấy cũng là sự thật.

Nền khoa học bên cạnh yếu tố đất đia (nguồn dự trữ tự nhiên), nguồn vốn tư bản và lao động, trong một số thuyết, được coi là biến số riêng rẽ, đồng quyết định sự gia tăng sản xuất. Điều này phụ thuộc vào cách tiếp cận với nguồn vốn tư bản. Nếu coi phạm trù này không mang tính cổ điển, mà là hiện đại – tức là bao gồm trong đó không chỉ vốn tài sản và vốn tài chính, nhưng cũng gồm nguồn vốn con người và vốn xã hội – thì không có lý do chính đáng để bóc tách khoa học và tri thức. Để rõ ràng dưới góc độ phương pháp luận, coi tri thức sensu largo (nghĩa rộng) như một yếu tố riêng rẽ làm gia tăng sản xuất và phát triển kinh tế – xã hội. Đấy là biến số, cần lưu ý tới những mô hình đa yếu tố tăng trưởng như là một phạm trù độc lập. Cũng giống như thế trong thuyết trùng hợp ngẫu nhiên. Trong tương lai, cần phải có cách tiếp cận rõ ràng, rằng vai trò của tri thức là một phần then chốt của nguồn vốn con người, mặc dù về cơ bản thì sự cách biệt sẽ ngày càng lớn.

Cũng cần thận trọng với những ồn ào xung quanh việc xây dựng nền kinh tế tri thức. Có thể một ai đó đưa ra câu hỏi đơn giản : cái gì đối lập với nền kinh tế tri thức ? Nền kinh tế phi tri thức ? Bất cứ ai cũng đều biết rằg, con người luôn luôn biết một điều gì đấy. Không có nền kinh tế ngu dốt. Làm kinh tế – cũng như mọi nền văn minh – về bản chất sâu xa phải dựa trên tri thức. Vấn đề là ở chỗ, tri thức hiện nay là rất lớn không thể so sánh với bất kỳ thời kỳ lịch sử nào. Một cậu học sinh trung học nghiêm túc hay một sinh viên hiện nay đều biết nhiều hơn một người đoạt giải Nobel một trăm năm trước đây. Biết, nhưng không nhất thiết là hiểu, đấy là sự khác biệt quan trọng. Trong tươn glai, không chỉ nguồn tri thức sẽ tiếp tục gia tăng theo cấp độ số nhân mà sự hiểu biết bản chất sự việc cũng sẽ trở nên phổ biến. Ý nghĩa ngày càng lớn mạnh đối với những phương thức làm ăn kinh tế trong tất cả các cấp – từ phạm vi vi mô trong các xí nghiệp cho đến phạm vi vĩ mô trong nền kinh tế quốc dân và cả phạm vi toàn cầu – là việc năng lực khai thác một cách sáng tạo nguồn tri thức khổng lồ cho sự gia tăng những giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

Ở đây, chúng ta tiếp cận với ý tưởng không đầy đủ về mặt định nghĩa, nhưng nó sẽ vẫn như thế. Một cách thực tế, có thể xác định nền kinh tế tri thức như một hệ thống các yếu tố sản xuất, trong đó con người biết nhiều hơn, sẽ có những đóng góp cho sự tăng trưởng kinh tế với quy mô ngày càng tăng. Chắc chắn, các nền kinh tế và xã hội vận hành trên cơ sở các nền kinh tế đó sẽ ngày càng khai thác một cách triệt để tri thức phục vụ cho sự phát triển của mình. Chỉ có vậy. Nhưng cần phải tiếp tục gieo hạt và gặt hái, đánh bắt và khai khoáng, cắt và may. Chỉ có điều, đội quân làm những công việc này một ít đi, và gia tăng đội ngũ những người tìm tòi, suy nghĩ. Cần phải công bằng mà nói rằng, câu « tư duy cho tương lai » không phải là điều mới mẻ. Và cho dù Einstein đã thêm từ « to lớn » vào đó, thì nó vẫn cứ từng tồn tại từ thời xa xưa. Khi đã có tương lai, trong tương lai sẽ là hoàn hảo hơn.

Không có chỗ đứng cho áp lực của giới khoa học với nhiều gốc gác khác nhau coi ý tưởng xây dựng nền kinh tế tri thức như là cơ hội thu tiền bạc để cải thiện điều kiện vật chất của mình. Tôi hoàn toàn đồng ý là, các giáo sư kiếm tiền nhiều hơn. Tuy nhiên, nếu họ kiếm được nhiều tiền hơn – một cách trực tiếp hoặc nhờ có nhiều dạng khuyến mại – thì cũng không có nghĩa, nền kinh tế mang đậm chất tri thức hơn. Vâng, có lẽ lương bổng cao sẽ mặc nhiên quyết định nguồn tri thức lớn hơn, nhưng không có sự tương quan giản đơn như thế. Để thực sự là nền kinh tế tri thức, trong cùng thời gian đó phải có những chuyển động hàng loạt của những yếu tố trong lĩnh vực văn hóa, thể chế và chính sách.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s