Bảng 1.1. Tỷ lệ này cao nhất ở các nước có thu nhập thấp, nơi không có nhiều công việc với điều kiện tốt; tỷ lệ này cũng khá cao ở một số nước có thu nhập cao như Pháp (5,8%), Anh (6,4%) và Mỹ (7,6%). Tỷ lệ 7,6% chỉ ra rằng 1 trong 13 người Mỹ ở tuổi trưởng thành có ý định kinh doanh hoặc đã sở hữu/quản trị một doanh nghiệp hoạt động dưới 3 năm rưỡi.

Bảng 1.1 Tỷ lệ dân số (tuổi từ 18 đến 64) khởi sự kinh doanh giai đoạn đầu

Nước Tỷ lệ dân số khởi sự kinh doanh (%)
Argentina 14,2
Brazil 17,5
Pháp 5,8
Đức 4,2
Peru 27,2
Nga 3,9
Thổ Nhĩ Kỳ 8,6
Anh 6,4
Hoa Kỳ 7,6

GEM cũng xác định khi những người được điều tra sẽ thành lập một doanh nghiệp mới để tranh thủ một cơ hội hấp dẫn hay nhằm mục đívh thu nhập. Đa số những người ở các nước thu nhập cao thành lập doanh nghiệp do họ có được một cơ hội hấp dẫn. Còn mục đích thu nhập thường đúng với những người ở nước có thu nhập thấp (kết quả của việc thiếu những công việc có điều kiện tốt).

Rất nhiều người thấy rằng việc thành lập doanh nghiệp mới là một hướng đi hấp dẫn cho nghề nghiệp của mình. Những cuốn sách viết về việc làm thế nào để trở thành một nghiệp chủ đang được phát hành rộng rãi. Chẳng hạn như trang Amazon.com, danh sách hiện tại đã lên đến 35.600 đầu sách và những cuốn khác về việc làm thế nào để khởi nghiệp kinh doanh và hơn 62.700 đầu sách liên quan đến doanh nghiệp nhỏ.

Thứ hai, người khởi sự kinh doanh

Người thực hiện hành vi khởi sự kinh doanh được gọi là người khởi sự kinh doanh. Có doanh nghiệp do một người khởi sự; cũng có doanh nghiệp do một nhóm người cùng nhau khởi sự. Trong bài này chúng ta thống nhất sử dụng chung thuật ngữ người khởi sự để chỉ một/một nhóm người cùng nhau khởi sự kinh doanh. Sau khi khởi sự người khởi sự trở ngành nghiệp chủ.

Trong cuốn Entrepreuneurship – Successfully Launching New Ventures từ doanh nhân bắt nguồn từ một từ tiếng Pháp là entre, có nghĩa là “ở giữa”, và “prendre” nghĩa là “hành động”. Từ này vốn để mô tả những người sẵn sàng “chấp nhận rủi ro” giữa những người mua và người bán và những người “đảm nhận” nhiệm vụ như bắt đầu một thương vụ mới. Người sáng tạo và doanh nhân là khác nhau. Một người sáng tạo sẽ đưa ra cái gì đó mới. Còn một doanh nhân tập hợp và sử dụng tất cả các nguồn lực cần thiết – tiền, con người, mô hình kinh doanh, chiến lược và khả năng chịu đựng rủi ro – để biến một phát minh thành một hoạt động kinh doanh khả thi.

Từ đó, các tác giả cuốn sách trên quan niệm khởi sự kinh doanh là một quá trình mà các cá nhân theo đuổi cơ hội kinh doanh mà không phụ thuộc vào các nguồn lực mà họ đang có trong tay. Fred Wilson lại định nghĩa đơn giản hơn rằng khởi sự kinh doanh là nghệ thuật biến ý tưởng thành một hoạt động kinh doanh. Thực chất, khởi sự kinh doanh là hành vi doanh nhân xác định cơ hội và đưa những ý tưởng hữu ích vào thực tiễn. Nhiệm vụ này có thể thực hiện bởi một cá nhân hoặc một nhóm người và thường đòi hỏi sự sáng tạo, động cơ và sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro. Fraser Doherty, người sáng lập hãng mứt SuperJam là ví dụ điển hình về những phẩm chất đó. Doherty đã nhìn thấy cơ hội tạo ra một sản phẩm mứt làm từ 100% hoa quả tươi, bán cho những khách hàng quan tâm đến vấn đề sức khỏe, ông cũng chấp nhận mạo hiểm với triển vọng nghề nghiệp khi dành đến hai năm để thuyết phục các nhà máy và hãng thiết kế giúp ông, và hiện nay, ông đang làm việc không ngừng để đưa ra những dịch vụ hữu ích cho khách hàng của SuperJam.

Cần phân biệt giữa phạm trù doanh nhân và nghiệp chủ. Doanh nhân sẽ tiến hành hoạt động kinh doanh bất kỳ để thu lợi nhuận. Hiểu theo nghĩa rộng hơn, người ta còn quan niệm mọi nhà quản trị cao cấp – những người không sở hữu mà chỉ làm thuê ở cương vị cao trong doanh nghiệp – là doanh nhân. Như thế doanh nhân có thể sở hữu hoặc không sở hữu một/nhiều doanh nghiệp. Nghiệp chủ là người chủ của doanh nghiệp; anh ta có thể đồng thời đóng vai trò nhà quản trị hoặc không. Một doanh nhân khởi sự, tạo lập và đưa doanh nghiệp do anh ta tạo lập vào hoạt động được gọi là nghiệp chủ.

Để khởi sự hoạt động kinh doanh có thể chỉ một người thực hiện; trong trường hợp này người khởi sự tự mình tiến hành toàn bộ các hoạt động liên quan đến công việc khởi sự kinh doanh. Trong trường hợp có từ hai người trở lên cùng nhau khởi sự kinh doanh, những người tham gia khởi sự cần cùng nhau bàn bạc, phân công tiến hành các công việc cần thiết cho khởi sự.

2.2/ Lý do khởi sự kinh doanh

Có nhiều lý do mà một người quyết định trở thành doanh nhân và thành lập doanh nghiệp của mình; trong đó ba lý do chính được trình bày dưới đây:

Thứ nhất, trở thành người chủ của chính mình

Lý do đầu tiên – trở thành sếp của người khác – được nhắc đến nhiều nhất. Tuy vậy, điều này không có nghĩa là những doanh nhân này là những người rất khó hợp tác, hay họ có vấn đề về việc chấp nhận quyền hành. Thay vòa đó, nhiều doanh nhân muốn trở thành người chủ bởi từ lâu họ đã có tham vọng về sở hữu doanh nghiệp riêng, hoặc họ cảm thấy khó chịu với những công việc truyền thống. Sự khó chịu như vậy có thể được thấy qua ví dụ về Wendy DeFeudis, người sáng lập hãng VeryWendy, công ty chuyên cung cấp thiệp mời xã giao. Bình luận về sự thoải mái hơn khi làm việc cho bản thân so với khi làm cho một hãng lớn, DeFeudis cho biết: “Tôi vẫn luôn muốn được trở thành chủ doanh nghiệp. Tôi cảm thấy bị bó buộc trong cấu trúc tổ chức của công ty. Cấu trúc tổ chức đó làm tôi khó chịu và cảm thấy lãng phí thời gian – sự lãnh phí do tôi phải trình bày ý tưởng của mình với nhiều người và tham dự tất cả các cuộc họp nội bộ rồi sau đó mới có thể đi tới ý tưởng cuối cùng”.

Đôi khi khát vọng trở thành người chủ bắt nguồn từ nhận thức rằng đó là cách duy nhất để họ đạt được mục đích cá nhân quan trọng hoặc mục đích nghề nghiệp là thành lập công ty riêng của mình. Christopher Jones, David Labat và Mary McGrath đã khởi nghiệp với lý do này. Cả ba người đều tốt nghiệp ngành tâm lý học và có một công việc ổn định tại một trường học công lập ở Sant Clarita Valley, vùng bắc Los Angeles. Sau một thời gian, họ cảm thấy bị hạn chế bởi những công việc mà họ có thể làm cho học sinh trong khung cảnh nhà trường; vì thế họ bỏ việc và thành lập công ty Dynamic Interventions để cung cấp dịch vụ đầy đủ hơn về tư vấn và tâm lý giáo dục. Jones nhớ lại lý do khiến ông và hai đồng nghiệp bỏ việc để trở thành người chủ của chính mình như sau: “Ý tưởng này xuất phát từ nỗi bức xúc chung khi không thể cung cấp tất cả các dịch vụ (mà chúng tôi muốn cung cấp). Thay vì việc tiếp tục đi làm và khó chịu với việc đó trong suốt 30 năm tiếp theo, chúng toi quyết định phải làm điều gì đó để thay đổi. Với David Interventions, chúng tôi không phải dừng công việc khi hết giờ học. Chúng tôi có thể đi xa hơn và có ích hơn cho tất cả các gia đình”.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Ngọc Huyền, Ngô Thị Viết Nga (đcb) – Giáo trình khởi sự kinh doanh – NXB ĐHKTQD 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s