Nều kinh tế trở thành kênh tiêu thụ ngày càng nhiều tri thức không nhất thiết phải ở những nơi có nhiều kinh phí từ ngân sách nhà nước cung cấp cho việc nghiên cứu. Mà chắc chắn rằng, ở những nơi doanh nghiệp mong muốn khai thác tri thức với mục tiêu cải thiện tính cạnh tranh của mình thông qua việc khuyến khích sáng kiến, phát minh từ tri thức, chế tạo những sản phẩm mới và quản lý một cách chuyên nghiệp, thông qua việc thường xuyên nâng cao tay ngề cho đội ngũ nhân viên và cung cấp một cách hiệu quả kinh phí cho nghiên cứu, đặc biệt những nghiên cứu ứng dụng. Kinh phí cho nghiên cứu cơ bản vẫn chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước, tuy nhiên, trong những năm tới, có thể sẽ xây dựng rộng rãi mô hình thế chế đối tác công – tư. Chỉ những tổ hợp toàn cầu hàng đầu và một số quỹ giàu có mới đủ sức cấp kinh phí cho nghiên cứu cơ bản.

Những quốc gia thành công về mặt kinh tế đã chỉ ra rằng, nhịp độ phát triển đạt ở mức cao chỉ diễn ra ở những khu vực sản xuất có nhu cầu áp dụng những tiến bộ kỹ thuật và tổ chức. Tiếc rằng, những điều đó không xảy ra ở những nước có nhu cầu tăng trưởng nhanh, tức là ở những nước nghèo. Nền kinh tế tri thức là mặt hàng cao cấp mà chỉ những nước giàu có mới dám mạnh tay sử dụng do họ có những doanh nghiệp có nhiều khả năng dồi dào về vốn và có ngân sách quốc gia đủ sức cấp kinh phí cho nghiên cứu và ứng dụng.

Ở những nước nghèo nhất, cần phải hướng tới việc từng bước cải thiện tình trạng giáo dục và tuyền truyền tri thức. Không nên ảo tưởng, họ có thể đốt cháy giai đoạn phát triển và tạo ra được những gì mà không phải vô cớ đã xuất hiện rất muộn ở những nước giàu có. Brazil có thể tự hào với các nước khác rằng, họ có hiểu biết phải làm điều đó như thế nào để chế tạo máy bay phản lực chở khách tầm trung. Không phải trong việc tạo phải là bắt chước, chỉ trong chương trình theo kiểu Fome Zero. Có thể thiết lập nền kinh tế tri thức ở những nơi mà những vấn đề về cơ cấu nguồn vốn con người được giải quyết một cách cơ bản. Đặc biệt, ở đây muốn đề cập tới việc xóa bỏ nạn mù chữ và đạt được mức tối thiểu của nền văn minh kỹ thuật. Phần lớn các nước đều có rất nhiều vấn đề cần giải quyết trong lĩnh vực này.

Việc xây dựng một nền tri thức – hoặc, có thể tốt hơn, dựa trên nền tảng tri thức theo mức độ tăng dần – đòi hỏi phải áp dụng biện pháp kế tiếp và từng bước. Trong khuôn khổ của từng nền kinh tế, dưới góc độ tri thức, có những khu vực chủ đạo và khu vực phụ trợ. Ngày càng có nhiều khu vực sản xuất kinh tế tạo ra ngày càng nhiều giá trị gia tăng, bằng cách khai thác nguồn chất xám của con người, chứ không phải nguồn đất đai. Trên thế gới có những nước vượt trội và những nước đang vươn lên. Cùng với thời gian, ngày càng có nhiều nước thuộc nhóm nước đang vươn lên có dấu hiệu nghiêng về khai thác nguồn vốn nhân lực nội địa hơn là khai thác nguồn vốn tài sản nhằm phát triển kinh tế của nước mình. Nguồn vốn tài chính luôn luôn quan trọng, bởi vì thiếu nó không thể tạo ra cơ sở để khai thác nguồn vốn nhân lực. Tri thức có giá của nó.

Với nền kinh tế tri thức có chút gì đó giống như với những vòng nước trên mặt hồ. Khi ném đá xuống hồ thì những vòng nước gợn lên lan tỏa ra xung quanh nhờ tác động của năng lượng đã tạo ra toàn bộ sự chuyển động đó. Trong nền kinh tế cũng tương tự như vậy, tri thức được áp dụng ở một chỗ sẽ lan tỏa ra các vùng xung quanh và tỏa sang các công ty, các ngành, các khu vực. Các vòng lan tỏa này có thể ngày càng nhiều, nếu tiếp cho chúng những động lực thích hợp. Và các nước và khu vực khác cũng tham gia, nhờ đó tri thức được phổ biến rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu và ứng dụng.

Điều này có ý nghĩa gì đối với những nền kinh tế khác nhau dưới góc độ tài nguyên của các dân tộc ? Và đây, trên đỉnh tháp của thế giới là những nền kinh tế có hàm lượng tri thức cao – thông qua các phát minh, phát kiến. Tiếp đến là những nhóm đông đảo các nước có cấp độ phát triển trung bình chủ yếu với những thay đổi công nghệ. Cuói cùng là số đông các nước nghèo, muốn củng cố vị thế của mình bằng hững mô phỏng. Mô hình « 3 I » (invention, innovation, imitation) sáng tạo, đổi mới, mô phỏng sẽ thúc đẩy toàn bộ hệ thống kinh tế toàn cầu đi lên phía trước. Mô hình « 3 I » sẽ giúp cải thiện hiệu quả tổng quan của quá trình làm kinh tế và có thể – nhưng không bắt buộc – trợ giúp các nước kém phát triển nhanh chóng vươn lên.

Vấn đề bản quyền, các phát minh, công thức pha chế, các mẫu mã tiêu dùng, nhãn mác, phụ thuộc rất nhiều vào những giải pháp về thể chế và phán quyết về tài chính. Khi nhìn sự phân bổ quyền sở hữu trí tuệ trên bản đồ thế giới liên quan tới những vấn đề nêu trên, thì thấy rằng độ tập trung của chúng còn lớn hơn của nguồn dự trữ năng lượng. Và không phải từ hôm nay chúng mới quý giá hơn. Ngay trong những năm 1938 – 1939 Pháp đã thu về một khoản tiền ngang với khoản tiền bỏ ra nhập khẩu 10 tấn than nhờ bán một chiếc váy của một nhà tạo mốt, còn một lít nước hoa thì đổi được 2 nghìn lít xăng. Hiện nay, không chỉ phải trả tiền cho công nghệ mà còn trả cho nhãn hàng hóa, nhiều khi còn cao hơn cả chi phí mua nguyên liệu để chế ra sản phẩm và công lao động. Trong khi đó những chủ thể của sở hữu trí tuệ – lợi nhuận lại chảy về đây – tập trung trước hết ở các nước giầu, bởi những chỗ thế này hiện hữu ở đó không phải nhờ khai thác thiên nhiên như nguồn nguyên liệu, mà nhờ sự sáng tạo của trí tuệ con người.

Nếu như vẽ bản đồ phân bố tài năng – thì chúng ta sẽ thấy rằng, tài năng được phân bổ trên thế giới đồng đều hơn là nguồn nguyên liệu hay quyền tác giả. Còn bản thân tài năng – không có tri thức và sự hỗ trợ về mặt vật chất – sẽ chẳng làm gì được nhiều. Còn nếu là những tài năng xuất chúng, thì bị thâu tóm và vắt cạn kiệt. Các nước giàu không cần thiết – đó là điều dễ hiểu – chia sẻ nguồn tri thức của mình và những công nghệ tiên tiến với các nước khác. Các nước giầu thực sự không chỉ muốn giàu có, mà còn muốn duy trì khoảng cách trong phát triển với các nước khác. Biện pháp tốt nhất để duy trì khoảng cách ấy là duy trì sự chi phối về khoa học và công nghệ. Trong những thập niên và thế kỷ tới, sự ganh đua trong lĩnh vực này ngày càng trở lên gay gắt. Về các công nghệ khác, không chỉ những công nghệ liên quan đến quân sự, mà cả công nghệ sản xuất hàng hóa, trong đó có một số tân dược đã tích tụ những mâu thuẫn về quyền lợi chứa đựng xung đột. Trong lĩnh vực này sẽ nổ ra những cuộc chiến tranh thực sự, nhưng không gây đổ máu. Phần lớn các cuộc chiến tranh này diễn ra âm thầm, trong đó tầm quan trọng thuộc về gián điệp, tình báo kinh tế chứ không phải quân sự.

Một mặt, cùng với việc truyền bá rộng rãi tri thức ra những khu vực mới, ở từng nước – kể cả các nước phát triển – phạm vi hoạt động kinh tế dựa trên nền tảng tri thức cũng sẽ được mở rộng. Mặt khác, số quốc gia khai thác tri thức trong hoạt động kinh tế ngày càng gia tăng. Tỷ trọng chất xám trong GDP sẽ nhanh chóng gia tăng trên toàn thế giới, trong vài ba thập niên tới tỷ trọng này sẽ càng gia tăng ở các nước phát triển cao. Ở đó, GDP ngày càng ít trọng lượng. GDP có trọng lượng của mình, bởi một phần của nó được hóa thân trong những sản phẩm, mà các sản phẩm này có trọng lượng của mình. Trong vòng hai thập niên gần đây, trọng lượng GDP của Mỹ giảm khoảng 20%. Sự sụt giảm này cũng diễn ra tại nhiều quốc gia có mức công nghệ trung bình.

Khoảng trống về mặt phát triển chia cách giữa các nước giàu, là những nước có GDP tương đối « nhẹ » so với các nước nghèo và lạc hậu có thể sẽ ngày càng rộng ra. Ít ra cũng trong phần GDP mà nó được quyết định bởi cấp độ giáo dục hóa toàn dân và chất lượng nguồn lực. Trong tương lai, khi thiết lập được nền móng cần thiết cho việc nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực – xóa bỏ nạn mù chữ, phổ cập trung học cơ sở, nâng cao chất lượng hệ đại học và dạy nghề, củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học – kỹ thuật – thì lúc đó có thể không chỉ mơ ước tạo dựng nền kinh tế tri thức, mà là mong muốn có được nó.

Vậy tương lai sẽ đem lại cho chúng ta điều gì mới mẻ ? Hay chỉ là chúng ta sẽ làm việc bằng đầu nhiều hơn và đổ mồ hôi ít hơn. Với tri thức cũng giống như tất cả các nguồn tài nguyên khác : cái quan trọng không phải là có bao nhiêu, mà là khai thác nó như thế. Chiến thắng sẽ thuộc về những ngành, nhóm nghề nghiệp, quốc gia và khu vực, không chỉ biết tạo ra tri thức, trước hết mà còn biết khai thác nó. Toàn bộ tri thức của các kỹ sư, nhà chuyên môn thạo tiếng Anh người Nigeria và Kenya trong lĩnh vực phầm mềm vi tính chẳng làm nên cơm cháo gì tới chừng nào họ vẫn hoạt động như những hacker Internet. Toàn bộ tài năng nghề nghiệp của các nhà vật lý người Iran hay Bắc Triều Tiên sẽ bị khai thác một cách cực kỳ lãng phí, chừng nào nó không được gắn với chính sách phục vụ cho việc khích lệ gia tăng tiến bộ khoa học – kỹ thuật. Toàn bộ mảng tri thức được huy động cho việc thiết lập hệ thống lá chắn tên lửa của Mỹ và hệ thống chống lại lá chắn của Nga không chỉ không có bất cứ ý nghĩa gì dưới góc độ an ninh quốc tế, mà còn làm phương hại đến tiến trình phát triển, bởi vì nguồn vốn quý hiếm bị lãng phí. Để nền kinh tế ngày càng dựa vào tri thức nhiều hơn thì việc hiểu biết ngày càng nhiều là chưa đủ, mà cần phải biết khai thác nguồn tri thức như thế nào. Chính sách cũng cần phải dựa vào tri thức nhiều hơn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Grzegorz W. Kolodko – Thế giới đi về đâu? – NXB Thế giới 2010.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s