Có quá nhiều các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn Olympia về quá trình toàn cầu hóa. Một khi họ đã ổn định và điều chỉnh ở mức vĩ mô, cho phép các doanh nghiệp hợp pháp và các nhà đầu tư nước ngoài phát đạt và các nhà kinh tế chính thống kiểm soát ngân khố, họ cảm thấy rằng họ đã hoàn thành bổn phận của mình. Bởi vì họ chỉ tập trung vào các chính sách giải quyết các số liệu, chỉ tiêu tổng hợp, họ không điều tra xem liệu người dân có các phương tiện để tham gia vào một hệ thống thị trường mở rộng hay chưa. Họ quên rằng nhân dân là những tác nhân căn bản của sự thay đổi. Họ quên tập trung vào những người nghèo. Và họ mắc phải sự thiếu sót khổng lồ đó bởi vì họ không hoạt động với khái niệm giai cấp trong đầu. Theo lời của một trong những học giả lỗi lạc nhất của họ, họ không có “khả năng để thấu hiểu, dù là lơ mơ, những người khác sống ra sao”.

Các nhà cải cách kinh tế đã bỏ vấn đề quyền sở hữu của người nghèo vào tay các cơ quan pháp luật bảo thủ không quan tâm đến thay đổi hiện trạng. Kết quả là, tài sản của đại đa số công dân vẫn là tư bản bị chết kẹt trong khu vực ngoài pháp luật. Đây là lý do vì sao những người ủng hộ toàn cầu hóa và thị trường tự do bắt đầu được biết đến như những người tự mãn, bảo vệ quyền lợi của những người chế ngự lồng kính.

Đối mặt với bóng ma của K. Marx

Hầu hết các chương trình cải cách kinh tế trong các nền kinh tế nghèo có thể rơi vào cái bẫy mà K. Marx đã đoán trước : Nghịch lý to lớn của hệ thống tư bản chủ nghĩa là việc nó tự đào huyệt chôn mình vì nó không thể loại trừ sự tập trung tư bản vào tay một số ít người. Do không để cho đại đa số người dân tiếp cận được các thị trường mở rộng, các cuộc cải cách này để lại một mảnh đất màu mỡ cho xung đột giai cấp – một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và thị trường tự do cho số ít có đặc quyền, những người có thể cụ thể hóa các quyền sở hữu của mình, và sự nghèo đói tương đối cho khu vực to lớn có độ tư bản hóa thấp, không có khả năng dùng sức mạnh của các tài sản riêng của mình.

Xung đột giai cấp, trong thời đại ngày nay ? Chẳng phải khái niệm đó đã sụp đổ với Bức tường Berlin ? Rất tiếc là không phải vậy. Điều này có thể khó hiểu đối với một công dân ở một quốc gia tiên tiến, bởi vì ở phương Tây những người bất mãn với hệ thống sống trong « các nhóm nghèo đói riêng rẽ ». Sự nghèo đói ở các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây, tuy vậy, không được giới hạn lại trong các nhóm riêng rẽ ; nó phổ biến khắp xã hội. Những nhóm riêng rẽ tồn tại ở các nước ấy là các nhóm của những người giàu có. Cái mà phương Tây gọi là « tầng lớp dưới » thì ở đây là đa số. Và trong quá khứ, khi những mong đợi ngày càng tăng của họ không được thỏa mãn, khối người nghèo giận dữ đó đã bắt giới ưu tú, nhìn bề ngoài có vẻ vững chắc, phải quỳ gối (như ở Iran, Venezuela và Indonesia). Ở hầu hết các nước ngoài phương Tây, các chính phủ phụ thuộc vào các cơ quan tình báo mạnh, và giới ưu tú của họ sống đằng sau các bức tường giống những pháo đài với lý do chính đáng.

Ngày nay, ở một quy mô rộng lớn, sự khác biệt giữa các quốc gia tiên tiến và phần còn lại của thế giới là sự khác biệt giữa các nước mà quyền sở hữu chính thức là phổ biến với các nước mà các giai cấp được phân ra thành những người có thể cố định các quyền sở hữu và tạo ra tư bản và những người không thể. Nếu các quyền sở hữu ngoài pháp luật không được dàn xếp cho phù hợp, thì các xã hội này có thể vất vưởng với nền kinh tế nhị nguyên của mình – với cái gọi là khu vực tuân thủ pháp luật ở một bên và khu vực ngoài pháp luật bị bóp nghẹt ở bên kia. Nhưng do thông tin và truyền thông tiếp tục được cải thiện và những người nghèo được thông tin tốt hơn về cái mà họ không có, sự thất vọng cay đắng về chủ nghĩa phân biệt pháp lý chắc chắn tăng lên. Đến một điểm nào đó, những người ở bên ngoài lồng kính sẽ được huy động, bởi những người có chương trình hành động chính trị lớn mạnh nhờ sự bất mãn, để chống lại hiện trạng. « Nếu chúng ta không tìm ra cách để làm cho toàn cầu hóa mang tính bao dung hơn », Klauss Schwab ở Diễn đàn Kinh tế Thế giới nói, « chúng ta phải đối mặt với triển vọng về sự trỗi dậy của những xung đột xã hội gay gắt của quá khứ, được khuếch đại lên ở mức quốc tế ».

Chiến tranh lạnh có thể đã chấm dứt, nhưng những lập luận cũ về giai cấp không biến mất. Các hoạt động lật đổ và một sự trỗi dậy của xung đột sắc tộc và văn hóa ở khắp thế giới chứng tỏ rằng, khi người dân vô cùng bất mãn, họ tiếp tục tạo thành các giai cấp với cùng nỗi thống khổ. Tờ Newsweek lưu ý rằng ở châu Mỹ từ những năm 1980, « mỗi cuộc đấu tranh này có lịch sử riêng duy nhất của nó, nhưng tất cả những người đấu tranh đều phỉ báng cùng một kẻ thù : bộ mặt mới của chủ nghĩa tư bản Mỹ Latinh ». Trong các tình huống như vậy, học thuyết marxist có tác dụng giải thích xung đột giai cấp tốt hơn là tư tưởng tư bản chủ nghĩa, cái chẳng hề có phân tích so sánh hoặc thậm chí một chiến lược nghiêm túc cho việc với tới những người nghèo ở khu vực ngoài pháp luật. Các nhà tư bản thường không có sự giải thích có hệ thống về việc làm sao mà những người nghèo ở tầng lớp dưới lại rơi vào vị thế như họ hiện thời và làm sao có thể thay đổi hệ thống để nâng họ lên.

Chúng ta không được đánh giá thấp năng lực tiềm tàng của học thuyết marxist thống nhất, khi mà quần chúng nhân dân với ít hy vọng đang tìm kiếm một thế giới quan nhất quán để cải thiện các triển vọng kinh tế tuyệt vọng của họ. Trong một thời kỳ kinh tế phồn thịnh, thường có ít thời gian cho suy ngẫm, tư duy sâu. Tuy vậy, khủng hoảng có tác dụng mài sắc nhu cầu tâm trí về trật tự và các giải thích thành nỗi ám ảnh. Tư duy marxist trong bất kỳ dạng tái xuất hiện nào của nó – và nó sẽ – cung cấp một loạt các khái niệm hùng mạnh hơn nhiều đề đánh vật với các vấn đề chính trị của chủ nghĩa tư bản ngoài phương Tây so với cách tư duy tư bản chủ nghĩa.

Sự hiểu thấu tư bản của K. Marx, như George Soros đã quan sát mới đây, thường tinh tế hơn so với hiểu biết của Adam Smith. Marx đã hiểu rõ rằng « bản thân chúng, tiền và các hàng hóa không có tính chất tư bản hơn so với các tư liệu sản xuất và phương tiện sinh sống. Chính chúng muốn chuyển hóa thành tư bản ». Ông cũng đã hiểu rằng, nếu các tài sản có thể biến đổi thành các hàng hóa và để chúng tương tác trong các thị trường, chúng có thể biểu lộ các giá trị, những cái không thể cảm nhận được đối với các giác quan, nhưng có thể được thâu tóm để tạo ra các khoản tiền tô (tiền thuế). Đối với K. Marx, quyền sở hữu là một vấn đề quan trọng bởi vì ông hiểu rõ rằng những người chiếm hữu tài sản nhận được hơn rất nhiều ngoài các thuộc tính vật lý của chúng. Kết quả là, bộ công cụ trí tuệ học thuyết marxist đã cung cấp cho những người chống chủ nghĩa tư bản những phương pháp hùng mạnh để giải thích vì sao quyền sở hữu tư nhân sẽ tất yếu đưa các tài sản vào tya những người giàu, làm tổn hại đến những người nghèo.

Đối với những người chưa nhận ra, kho vũ khí của những người phản đối chủ nghĩa tư bản và toàn cầu hóa đang được tích lại. Ngày nay, có hững số liệu thống kê nghiêm túc cung cấp cho những người chống tư bản chủ nghĩa đúng thứ vũ khí họ cần để lập luận rằng, chủ nghĩa tư bản là một quá trình chuyển tài sản từ các nước nghèo hơn sang các nước giàu hơn, và đầu tư tư nhân của phương Tây trong các quốc gia đang phát triển chẳng khác gì việc tiếp quản ở quy mô lớn các tài nguyên của họ bởi các công ty đa quốc gia. Số lượng xe hơi bóng loáng, các ngôi nhà sang trọng, và các siêu thị theo kiểu California có thể đã tăng ở hầu hết các quốc gia đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây trong thập kỷ vừa qua, nhưng số người nghèo cũng thế. Nghiên cứu của Nancy Birdsall và Juan Luis Londono chỉ ra rằng sự nghèo đói tăng nhanh hơn và phân bố thu nhập đã xấu hơn đi trong thập kỷ qua. Theo « Báo cáo Phát triển Con người » của Liên hợp quốc năm 1999, tổng sản phẩm quốc nội, GDP, của Liên bang Nga đã sụt 41% từ năm 1990 đến năm 1997, đẩy hàng triệu người dân vào khu vực ngoài pháp luật. Tuổi thọ trung bình của nam giới Nga đã giảm đúng bốn năm – còn 58 năm. Báo cáo đổ lỗi cho quá độ sang chủ nghĩa tư bản và những tác động của toàn cầu hóa.

Những nỗ lực nghiên cứu này cung cấp cho chúng ta những tín hiệu cảnh báo lành mạnh, nhưng chúng cũng đặt các tên lửa trí tuệ vào vị trí cần thiết để làm nản lòng các chương trình tư nhân hóa và chủ nghĩa tư bản toàn cầu. Bởi vậy, điều quan trọng là tìm hiểu học thuyết marxist và sau đó đưa thêm những cái chúng ta đã học được trong một thế kỷ từ khi K. Marx qua đời. Chúng ta ngày nay có thể chứng minh rằng, mặc dù K. Marx đã thấy một cuộc sống kinh tế song hành có thể được tạo ra ngay sát bản thân các tài sản vật chất – rằng « những sản phẩm của đầu óc con người hiện ra như những cái độc lập được phú cho cuộc sống » – ông đã không hiểu rõ lắm rằng quyền sở hữu chính thức không đơn thuần là một công cụ để chiếm đoạt mà còn là phương tiện để thúc đẩy người dân tăng thêm giá trị khả dụng thực sự. Hơn thế nữa, ông đã không nhìn thấy rằng chính các cơ chế chứa đựng trong bản thân hệ thống quyền sở hữu là cái đem lại cho tài sản và lao động tích lũy trong chúng những hình dạng cần thiết để tạo ra tư bản. Mặc dù K. Marx phân tích về vấn đề làm sao mà các tài sản trở thành siêu việt và đáp ứng nhu cầu xã hội lớn hơn khi chúng trở nên có thể trao đổi được, là nội dung cơ bản để hiểu sự giàu có, ông đã không có khả năng tiên đoán mức độ mà các hệ thống quyền sở hữu hợp pháp sẽ trở thành phương tiện quan trọng cho việc làm tăng giá trị trao đổi.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s