K. Marx hiểu rõ hơn bất kỳ ai khác trong thời đại của ông rằng, trong kinh tế học không có sự mù quáng nào lớn hơn là xem các tài nguyên chỉ với những tính chất vật chất của chúng. Ông cũng đã nhận thức được rằng tư bản là « một chất liệu độc lập… trong đó tiền và các hàng hóa chỉ đơn thuần là các dạng mà nó khoác vào và bỏ ra lần lượt ». Nhưng ông đã sống trong một thời kỳ có lẽ là quá sớm để thấy làm sao mà quyền sở hữu chính thức, thông qua biểu thị, có thể làm cho cùng các tài nguyên ấy phục vụ các chức năng thêm nữa và tạo ra giá trị thặng dư. Bởi vậy, K. Marx đã không thể tìm ra làm thế nào để tăng phạm vi những người hưởng lợi của quyền sở hữu vì lợi ích của tất cả mọi người. Các chứng thư quyền sở hữu chỉ là đỉnh chóp có thể nhìn thấy được của tảng băng quyền sở hữu ngày càng lớn. Phần còn lại của tảng băng bây giờ là một phương tiện nhân tạo khổng lồ để dễ dàng rút ra khả năng kinh tế của các tài sản. Đó là lý do vì sao K. Marx đã không hiểu đầy đủ rằng, quá trình cố định và triển khai tư bản, rằng không có quyền sở hữu thì nhân loại không thể biến đổi những thành quả lao động của mình thành các dạng lỏng, có thể thay thế nhau, những cái có thể được phân biệt, kết hợp, chia nhỏ và đầu tư để tạo giá trị gia tăng. Ông đã không nhận ra rằng một hệ thống quyền sở hữu hợp pháp tốt, giống như một con dao nhíp [của] quân đội Thụy Sĩ, có nhiều chức năng hơn là chỉ có mỗi một lưỡi dao « chủ sở hữu » sơ đẳng.

…Cần thấy rằng tư bản tiềm tàng không còn là đặc quyền của số ít người. Sau khi K. Marx qua đời, phương Tây cuối cùng đã tìm được cách thiết lập một khung khổ pháp lý, cái đã cho hầu hết người dân khả năng tiếp cận quyền sở hữu và các công cụ sản xuất. K. Marx có lẽ sẽ bị sốc khi thấy rằng trong các nước đang phát triển [ngày nay] phần lớn quần chúng đông đúc không phải là những người vô sản hợp pháp bị áp bức mà là các nghiệp chủ nhỏ ngoài pháp luật bị áp bức và có một lượng tài sản khá lớn.

Lòng mến mộ các hệ thống quyền sở hữu tốt không làm cho chúng ta mù quáng trước sự thực rằng, như K. Marx đã lưu ý, các hệ thống này cũng có thể được sử dụng để trộm cắp. Thế giới luôn đầy những kẻ lừa đảo lão luyện trong việc sử dụng các giấy tờ quyền sở hữu để hớt của từ những người dân nhẹ dạ không đề phòng. Tuy nhiên, không thể phản đối các hệ thống quyền sở hữu chính thức, vì lý do này, không khác nào so với việc phá hủy các máy tính hoặc xe hơi bởi vì có người dùng chúng để phạm tội. Giả sử K. Marx còn sống đến ngày nay và nhìn thấy sự chiếm đoạt tài nguyên xảy ra ở cả hai phía của Bức màn sắt trước đây, ông có lẽ sẽ đồng ý rằng sự cướp bóc có thể xảy ra với hoặc không với quyền sở hữu, và kiểm soát nạn trộm cắp phụ thuộc vào thực thi quyền lực hơn là vào quyền sở hữu. Thêm nữa, mặc dù K. Marx đã cho « giá trị thặng dư » một định nghĩa rất cụ thể, nhưng ý nghĩa của nó không bị buộc chặt vào cây bút của ông…

Giống như tất cả chúng ta, K. Marx đã bị ảnh hưởng bởi các điều kiện xã hội và công nghệ của thời đại ông. Sự tước đoạt các phương tiện tồn tại của những người chủ nhỏ, khả năng tiếp cận các quyền sở hữu tư nhân có nguồn gốc từ quyền sở hữu phong kiến, sự ăn cướp đất công, sự nô dịch hóa thổ dân, sự cướp bóc những người xâm chiếm, và việc hệ thống thuộc địa « săn người da đen cho mục đích thương mại », tất cả đã có thể là các tiền đề chủ yếu cho cái mà K. Marx gọi là « tích lũy tư bản nguyên thủy ». Ngày nay những điều kiện này khó có thể lặp lại. Thái độ đã thay đổi – với mức độ không nhỏ do chính những tác phẩm của K. Marx. Cướp bóc, chế độ nô lệ và chủ nghĩa thực dân bây giờ đều không được các chính phủ chấp nhất. Hầu hết các nước ngày nay là các bên của các hiệp định như Tuyên bố chung về Quyền con người và có hiến pháp quy định rằng khả năng tiếp cận bình đẳng đến các quyền sở hữu như là một trong những quyền căn bản của nhân loại.

Hơn thế nữa, như đã thấy, các nhà chức trách trong các nước đang phát triển đã không giấu giếm ý muốn trao cho người nghèo khả năng tiếp cận đến các tài sản. Phần lớn các tòa nhà và doanh nghiệp ngoài pháp luật tự phát ở các khu đô thị khắp thế giới thứ hai và thế giới thứ ba có thể không có chứng thư sở hữu chính thức, nhưng các chính phủ đã chấp nhận (dù ngầm định) sự tồn tại của chúng và những thỏa thuận quyền sở hữu. Ở nhiều nước đang phát triển trong thế kỷ này, có nhiều dải đất lớn đã được cấp cho những nông dân nghèo như một phần của các chương trình cải cách nông nghiệp (mặc dù không có cả biểu thị quyền sở hữu cần thiết để tạo ra tư bản). Các nhà chức trách ở các nước đó cũng chẳng hề e ngại dành riêng ngân sách cho các vấn đề quyền sở hữu. Hàng ngàn tỷ USD đã được chi cho các hoạt động liên quan đến đăng ký quyền sở hữu.

Quyền sở hữu khiến tư bản « thân thiện với trí óc »

Suốt quyển sách này, tôi đã cố gắng chứng minh rằng hiện nay chúng ta có đủ bằng chứng để tạo ra sự tiến bộ lớn lao trong phát triển. Với điều đó trong tay, chúng ta có thể vượt qua cuộc tranh luận trì trệ « tả đối lại với hữu » về quyền sở hữu và tránh phải chiến đấu trong các cuộc chiến cũ kỹ ấy lại một lần nữa. Quyền sở hữu chính thức lớn hơn quyền chủ sở hữu. Như chung ta đã thấy, quyền sở hữu chính thức phải được xem như một quá trình không thể thiếu được, quá trình cung cấp cho người dân các công cụ để tập trung suy nghĩ của họ và các khía cạnh của các tài nguyên, mà từ những khía cạnh ấy họ có thể chiết xuất ra tư bản. Quyền sở hữu chính thức có phạm vi lớn hơn một hệ thống cấp chứng thư, đăng ký, ghi chép, và lập bản đồ các tài sản – nó là một công cụ của tư duy, biểu thị các tài sản theo cách so cho đầu óc của người dân có thể thao tác trên chúng để tạo ra giá trị thặg dư. Đó là lý do vì sao quyền sở hữu chính thức phải có khả năng tiếp cận được một cách thông dụng : để kéo mọi người vào một khế ước xã hội, nơi mà họ có thể hợp tác để làm tăng năng suất của xã hội.

Cái phân biệt một hệ thống quyền sở hữu hợp pháp tốt chính là nó » thân thiện với trí óc ». Nó tiếp nhận và sắp xếp các tri thức về tài sản đã được ghi chép vào trong các hình dạng mà chúng ta có thể kiểm soát. Nó thu thập, tích hợp và phố hợp không chỉ những dữ liệu về các tài sản và tiềm năng của chúng, mà cả tư duy của chúng ta về chúng. Tóm lại, tư bản được sinh ra do phương Tây có khả năng sử dụng các hệ thống quyền sở hữu để biểu thị các tài nguyên của họ trong một khung cảnh ảo. Chỉ có ở đó, trong thế giới ảo ấy, trí óc mới có khả năng nhận ra và thực hiện ý nghĩa của các tài sản đối với nhân loại.

Sự đóng góp cách mạng của một hệ thống quyền sở hữu được tích hợp là ở chỗ nó giải quyết vấn đề cơ bản của nhận thức. Năm giác quan của chúng ta không đủ giúp chúng ta xử lý thực tại phức tạp của một thị trường được mở rộng, chưa nói đến một thị trường được toàn cầu hóa. Chúng ta cần phải cô đọng các sự thực kinh tế về bản thân chúng ta và những tài nguyên  của chúng ta lại thành những tính chất mà trí óc của chúng ta có thể nắm bắt một cách dễ dàng. Một hệ thống quyền sở hữu tốt làm được việc đó – nó đưa các tài sản vào một dạng cho phép chúng ta phân biệt những nét giống nhau, các nét khác biệt của chúng và các điểm giao tiếp với các tài sản khác. Nó cố định chúng trong những biểu thị, những cái được hệ thống theo dõi khi chúng chu du qua thời gian và không gian. Thêm nữa, nó cho phép các tài sản trở nên chuyển đổi được bằng cách biểu thị chúng trong trí óc sao cho chúng ta có thể dễ dàng kết hợp, phân chia, và huy động chúng để tạo ra các hỗn hợp có giá trị cao hơn. Năng lực này của quyền sở hữu, để biểu thị các khía cạnh của tài sản trong các dạng thức cho phép chúng ta tổ hợp chúng lại để làm cho chúng hữu ích hơn nữa, chính là động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế, vì tăng trưởng chính là việc thu được đầu ra có giá trị cao từ những đầu vào có giá trị thấp.

Một hệ thống quyền sở hữu hợp pháp thích hợp là một môi trường cho phép chúng ta hiểu lẫn nhau, thiết lập các mối quan hệ và tổng hợp tri thức về tài sản của chúng ta để làm tăng năng suất của chúng ta. Nó là một cách để biểu thị thực tại, cái cho phép chúng ta vượt qua những giới hạn của giác quan của chúng ta. Những biểu thị quyền sở hữu được thiết kế khéo giúp chúng ta có khả năng lần ra tiềm năng kinh tế của các tài nguyên để tăng cường cái mà chúng ta có thể làm với chúng. Chúng không phải « đơn thuần là giấy » : chúng là các phương kế để tư duy, những cái cho chúng ta tri thức hữu ích về những thứ không hiện diện rõ ràng.

Các hồ sơ quyền sở hữu hướng tri thức của chúng ta tới một mục tiêu, mượn lời của Thomas Aquinas, « hệt như mũi tên vút đi nhờ người bắn cung ». Bằng cách biểu diễn các khía cạnh kinh tế của những thứ chúng ta có và ghép chúng lại thành các phạm trù mà đầu óc của chúng ta có thể nắm bắt nhanh chóng, các hồ sơ thích hợp làm giảm các chi phí giao dịch tài sản và làm tăng giá trị của chúng một cách tương xứng. Quan niệm này cho rằng giá trị của mọi vật có thể được tăng lên bằng cách giảm chi phí tìm hiểu và giao dịch, là một đóng góp quan trọng của Ronald Coase, người đã được nhận giải thưởng Nobel. Trong bài khảo luận « Bản chất công ty », Coase đã chứng minh rằng có thể giảm các chi phí thực hiện các giao dịch một cách đáng kể trong điều kiện được một hãng kiểm soát và điều phối. Theo ý nghĩa này, các hệ thống quyền sở hữu giống như các hãng của Coase – các môi trường được kiểm soát để giảm các chi phí giao dịch.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s