Về những sai lầm của cá nhân tôi, tôi buộc phải nói tới nhiều lần. Thứ nhất, vào lúc khởi đầu cải tổ đã bỏ phí nhiều thời gian để triển khai các cải biến kinh tế, rồi sau đó, khi chương trình cải cách triệt để được thông qua vào năm 1987 thì đã không còn đủ kiên nhẫn, vững lòng, quyết tâm và ý chí để bảo đảm thực hiện nó trên thực tiễn trong điều kiện có nhiều áp lực chống phá quyết liệt, một bên là các lực lượng thuộc phe nhóm chính thống, bảo thủ và bên kia là các lực lượng cấp tiến, phiêu lưu. Chẳng hạn, khi chúng ta bắt tay vào – mà đi, như bây giờ tôi càng tin chắc là thế – là một bước đi đúng – vào cải cách giá cả, một cuộc cải cách cần thiết chẳng khác gì không khí để thở, để thông qua những biện pháp nhất định và tất nhiên là gay gắt để tiến tới ổn định nền kinh tế thì chúng ta đã vấp phải thực tế là xã hội đã chống lại bước khởi đầu đó. Đến ngay cả những viện sĩ và những nhà báo là người đã “cởi nút” và đề cao vấn đề thay đổi giá cũng lại là những người điên cuồng chống lại những thiếu thốn, khó khăn vật chất rất nhỏ nhặt và tất yếu – đã đứng về phe đối lập với chính đường lối cải cách đã được lựa chọn. Tôi đã phải công khai, đứng ra trước nhiều cử tọa để thề rằng nếu xã hội không thuận ý thì chính chúng tôi sẽ không thả nổi và tăng giá mặt hàng nào, mà nếu đã quyết làm như vậy thì nhất định sẽ tuyên bố và nói về việc này trước. Với tất cả cái tưởng như là công bằng và hấp dẫn lòng người của những lời hứa hẹn như vậy, chúng ta đã để mất nhịp độ và thời gian, đã thua về mặt chiến lược, bởi lẽ lúc đó chúng ta vẫn còn được tín nhiệm, trong tay vẫn có quyền lực mạnh, vẫn còn giữ được Liên bang Xô Viết và chúng ta còn có thể giải quyết được nhiều việc, và nếu lúc đó diễn ra các cải cách chính trị và những cải cách khác, trong đó kể cả các quá trình kinh tế – xã hội thì chắc điều đó sẽ diễn ra ít tai biến hơn và tất nhiên, sẽ hoàn toàn khác với bây giờ.

Thứ hai là đã vi phạm đến tính đồng nhịp, phù hợp với nhau giữa các cải biến kinh tế, chính trị, tư tưởng. Cuộc đấu tranh chính trị, làn sóng chủ nghĩa phê phán đúng là đã tràn ngập hết các phương tiện thông tin đại chúng, trong khi đó thì trong lĩnh vực xã hội, trong lĩnh vực kinh tế còn chưa làm được bao nhiêu để cải thiện thực tế cuộc sống của mọi người.

Thứ ba là vấn đề chưa hiểu biết về sự cần thiết phải cải tổ Đảng. Tựu trung là Đảng đã ngày càng bị ảnh hưởng của tâm lý bảo thủ chính thống, trong khi đó thì trong xã hội, các lực lượng dân chủ muốn có sự thay đổi ngày càng mạnh mẽ. Điều đó đã làm cho Đảng bị tê liệt, thụ động và tự gạt bỏ mình ra khỏi vũ đài chính trị; điều đó rốt cuộc đã cho phép giải tán ĐCS Liên Xô một các thực sự và chính thức. Nói tóm lại, ban lãnh đạo đã không giải thích thấu đáo cho Đảng thấy rõ những mục tiêu đích thực của công cuộc cải tổ và tổ chức lực lượng có hiệu quả của nó và do đó, cuộc cải tổ bị mất đi cái đòn bẩy cơ bản có khả năng đưa đất nước phát triển lên.

Vậy là công cuộc cải tổ đã thất bại, trở thành nạn nhân bị công kích dữ dội, ngập trong những mâu thuẫn của chính mình. Các nhà cải cách, sau khi đã phạm phải một loạt sai lầm nghiêm trọng đã không thể giữ nổi quyền lực chính trị trong tay mình, không tiếp tục được quá trình chuyển hóa xã hội theo hướng dân chủ, không thực hiện được việc giải quyết một cách tự nhiên và khá đau đớn những khó khăn và vấn đề lịch sử tích tụ lại. Chính quyền đã nằm trong tay các lực lượng cấp tiếp truyền bá những giá trị hoàn toàn khác và bức đặt cho đất nước một đường lối chính trị mới. Nước ta, như trên đã nói, đã bước sang một chặng mới trong lịch sử của mình. Chặng đường này có thể là bế tắc hay đầy triển vọng, ngắn ngủi hay kéo dài (có thể tranh luận về điều này), nhưng đó quả là một chặng đường mới.

Tôi thiết nghĩ rằng tại Hội nghị này chúng ta cần làm cho thật rõ quan niệm và đánh giá tất cả các giai đoạn phát triển của cải cách trong mười năm qua.

Nhưng trước hết, tôi phải nói rằng chúng ta đã bắt đầu sự nghiệp cải tổ xuất phát từ quan niệm cho rằng hệ thống xã hội – chính trị hiện tại có thể và cần được cải thiện. Chúng tôi đã bị chi phối bởi những ảo tưởng chẳng khác gì những người đi trước chúng ta. Tôi muốn đến cả Khrushev, lẫn Andropov.

Đúng là kinh nghiệm (kể cả kinh nghiệm của riêng tôi) của những cải biến có tính chất cục bộ, chẳng hạn như ở quy mô một ngành, một tỉnh, một vùng dường như cho thấy rằng ở nơi nào thực hiện thành công chính sách cán bộ nghiêm túc, đề ra được những chương trình hiện đại hóa khả thi có thể thay đổi tình hình một cách thật sự. Nhưng rõ ràng đó là những sai lầm quá lớn, một cách nhìn quá lạc quan khi cho rằng những thành quả và kinh nghiệm cục bộ có thể chấn chỉnh, sửa đổi để rồi phổ biến cho toàn bộ hệ thống, cho cả toàn quốc. Rốt cuộc chúng ta, đã phải thừa nhận rằng chế độ chính trị, một hệ thống cũng như bất kỳ hệ thống nào khác, không thể chịu nổi những đổi mới sâu sắc, quá sức chịu đựng của nó như vậy. Ngay khi nó cảm thấy bị người ta động đến một cách thật sự, thì nó lập tức quay ra chống lại và thậm chí trả thù ngay. Thêm nữa, như các bạn còn nhớ, vẫn thường có cái gọi là “hiệu ứng rừng lá nhọn” – “phía trên thì ầm ầm, mà phía dưới thì vẫn yên ắng”. Khi những ý tưởng cải cách được triển khai, có được một diện mạo nào đó, được hiện thực hóa, được trình bày trong các quyết định chính trị thì khi chuyển nó sang bình diện chính sách thực tế, tất cả những ý tưởng đó đều đã tắt ngấm khi phải đi qua một rừng các cơ sở quan liêu của giới quan chức hành chính. Tất cả các chuyến đi, không chỉ của riêng tôi, mà của toàn thể ban lãnh đạo đều chuyển tải cùng một thứ “tin tức mới” nhưng ở các nơi vẫn chẳng có gì thay đổi cả. Hơn thế nữa, người ta bắt đầu cứ một mực nói: xin các vị bình tâm lại, ở cái đất nước Xô Viết và cái nước Nga thần thánh này thiếu gì các nhà cải cách nữa, ta cứ chịu đựng thêm cả những vị này nữa, rồi đâu lại vào đấy. Tức là về thực chất, chế độ đã chống lại, rồi sua đó đã giáng những đòn đánh trả. Cho đến năm 1988 chúng ta đã ý thức được rằng nếu không thay đổi, không cải cách chính ngay hệ thống thì không thể bảo đảm thực hiện thành công các cải cách, và ngay khi chúng ta hiểu ra được điều đó thì đó là lúc có thể nói đến giai đoạn thứ hai xét về mặt nội dung của công cuộc cải tổ. Giai đoạn này đã dựa trên những lập trường tư tưởng khác mà cơ sở của nó là tư tưởng xã hội – dân chủ.

Tôi thiết nghĩ rằng toàn bộ vốn kinh nghiệm đó rất đáng được lưu ý vì nó đã cho ta nhiều bài học. Trước hết là trong mọi việc và lúc nào cũng phải đứng trên lập trường của chủ nghĩa hiện thực. Không thể mong cải cách thành công nếu nó không được xã hội chấp nhận, nếu nó không xét đến thực tiễn chính trị hiện thời, không phù hợp với thực tế, truyền thống, thói quen, trình độ dân trí, không phù hợp với toàn bộ bối cảnh của cải cách và văn hóa, tâm thế của xã hội và của con người trong xã hội ấy.

Chính vì thế mà chúng tôi đã chọn con đường phát triển theo kiểu tiến hóa, cố gắng xét đến bối cảnh trên, mặc dù không thể đi cho hết con đường và đã thất bại.

Còn nếu như trở lại vấn đề vậy thì những gì đang diễn ra hôm nay, trong những năm qua là như thế nào, – đó là bước tiếp theo của công cuộc cải tổ hay là một cái khác? Như tôi đã nói, đây rõ ràng là đang nói về một chính sách khác, một đường lối chính trị khác, về những hình thức khác. Một cách lựa chọn như vậy đang được thực thi, và nhiệm vụ đặt ra chỉ là tìm hiểu xem sự thay thế và lớp người thay thế ấy so với đường lối cũ, chính sách cũ đúng đến đâu.

Tôi vững tin rằng đó chẳng hề là bước đi tiếp của công cuộc cải tổ: cải tổ đã đứt gánh ở ngay giai đoạn gay go nhất, có ý nghĩa quyết định nhất, và khó mà nói một cách chắc chắn sự kiện sẽ tiếp tục phát triển ra sao, nhưng dù thế nào đi chăng nữa, tôi vẫn nghĩ rằng cả đất nước, cả nền kinh tế lẫn xã hội chắc không ở trong tình trạng thê thảm như hiện nay. Đường lối hiện nay, được thực thi từ đầu năm 1992 xét theo những điểm như hiện nay. Đường lối hiện nay, được thực thi từ đầu năm 1992 xét theo những điểm chính yếu là khác hẳn với hệ tư tưởng, với chính sách và thực tiễn của công cuộc cải tổ. Hơn thế, nó đang phủ nhận cải tổ. Cải tổ nhằm cải cách và bảo toàn Liên bang. Điểm trung tâm và tư tưởng chỉ đạo của chính phủ hiện nay là phá tan đất nước, “giải phóng nước Nga khỏi lũ ăn bám” và sử dụng những nguồn lực “vô hạn” bên trong của mình hòng trong vòng 3 – 4 năm tới vượt lên đứng vào hàng các quốc gia cường thịnh.

(còn tiếp) 

Người dịch: Thạch Viên

Nguồn: TĐB 96 – 19

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s