Nếu suy nghĩ một chút, thì thời kỳ của Gorbachev – đó là thời kỳ khai quật mồ mả: mồ của thời thành lập chính quyền Xô Viết, mồ của những năm 30 – 40 – 50, mồ của thời mới gần đây, mồ của lịch sử (dân tộc nào sống trước đây trên mảnh đất này). Tạp chí “Tin tức BCH TW”, nơi Gorbachev là tổng biên tập, có tới hai phần ba dành cho việc khai quật mồ mả. Hay là cuộc tranh luận “dân chủ” trên nhiều báo khác nhau và cái xác bị treo cổ của Zoia Kosmodemianskaia, trong đó khẳng định đó không phải là xác của cô. Cuộc giám định được nói tới trong trong bài Đấy có phải là cô ta, Zoia của chúng ta! V. Kozemiako: “Kết luận của các chuyên gia”… trên ảnh xác cô gái bị treo cổ là Zoia Kosmodemianskai”. Trên nền những mồ mả bị khai quật thối rữa là hình ảnh của kẻ ăn xác chết, nhà trí thức Gorbachev.

Còn một điểm liên quan tới phân tích tâm lý. Gorbachev có một sự thăng tiến nhanh tới khó tin, trong khi chẳng có chúng công lao thực tế nào, và chịu sự sỉ nhục thực tế cũng như ảo. Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Moskva, ông ta trong thâm tâm tin là mình có sự vượt trội về trí óc so với những người mà ông ta phải tuân lệnh. Dần dần ở ông ta hình thành một tính cách phá hoại. Ông ta cần phải cảm thấy sự vượt trội của mình. Ông ta có được sự thỏa mãn trong phá hoại và lật đổ, cả đối với đất nước nói chung, cũng như với từng con người riêng biệt. Thật kinh tởm khi nghe việc ông ta nói chuyện với những người Pribantich ủng hộ bảo toàn Liên bang, lừa dối họ trong khi hiểu rõ ràng ngày mai ông ta thực tế đẩy Rubiks và Burokiavichus vào tù. Những người đối thoại không hiểu được bản chất thật của ông ta, và đó chính là sức mạnh của ông. Tất nhiên, thảm họa đổ xuống Liên bang Xô Viết là không bất ngờ. Nó xảy ra sau một sự chuẩn bị kỹ càng, và là kết quả của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý. Trong cuộc chiến này, không có Gorbachev thì cũng có người khác, nhưng “thời gian đã lựa chọn ông ta” và rất nhiều chuyện phụ thuộc vào ông. Ngoài ra, trong suy nghĩ của con người, một giai đoạn lịch sử nào đó thường được gắn với hình bóng một nhân vật. Với ý nghĩa, Gorbachev là người đứng đầu đất nước, và trở thành kẻ cầm đầu quá trình phá hoại.

Về kết quả của giai đoạn ba

Giai đoạn ba của cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý kết thúc với sự phân rã của Liên bang Xô Viết, người dân mất định hướng và có sự thay đổi cơ bản trong ý thức xã hội. Việc xã hội từ bỏ các lý tưởng trước đây mang tính đột ngột. Chẳng có một sự kháng cự có tổ chức nào. Trong khi “các đốc công của cải tổ” chẳng có một cương lĩnh thực tiễn tích cực nào. Thành công to lớn và bất ngờ của Mỹ cùng đội quân thứ năm do họ điều khiển trong cuộc chiến tranh thông tin chống Liên Xô không chỉ là do chiến lược của Mỹ, mà còn do sự thay đổi khách quan từ trong ý thức con người, rất đặc trưng cho thời đại của chúng ta và đặc biệt rõ nét vào cuối thế kỷ XX.

Xu thế của sự thay đổi này đã được Macs Nordau, học trò của nhà tâm thần học và tội phạm học nổi tiếng Chezar Lombrozo, phát hiện từ đầu thế kỷ XX. Các nghiên cứu của ông có thể coi là cái nhìn của nhà tâm thần học vào ý thức không phải chỉ của một con người riêng biệt, mà là ý thức của một lớp người nhất định trong xã hội. Trên cơ sở những dữ kiện khổng lồ, ông tiến hành phân tích những động cơ đẩy đám đông trí thức từ bỏ cách suy luận tỉnh táo, và theo đuổi các thể hiện khác nhau của người bệnh tâm thần. Từ kết quả nghiên cứu của mình Nordau đưa ra kết luận là, những kẻ có ý nghĩ bệnh hoạn có được sự nổi tiếng là vì chính đám đông cũng bệnh hoạn. Trong cuốn “Thoái hóa” nổi tiếng của mình, ở phần “Thế kỷ XX – Dự báo” ông viết:

Chúng tôi đã kết thúc sự quan sát dài ngày và đáng buồn ở bệnh viện, nơi mà ngày nay nếu không đại diện cho toàn bộ nhân loại văn minh thì ít nhất cũng cho tầng lớp trên của các thành phố lớn. Chúng tôi nghiên cứu các hình thức khác nhau, được thể hiện và lan rộng trong nghệ thuật thơ ca và triết học.

Hiện tượng trục trặc thần kinh chủ yếu của con người đương đại trong lĩnh vực này là: hoang tưởng như là hậu quả của việc không thể tập trung chú ý, suy nghĩ rành mạch , kìm chế cảm xúc, do các trung tâm thần kinh bị suy yếu; tính ích kỷ do tình trạng bất thường của thần kinh cảm xúc, do các cơn của các trung tâm cảm nhận, bản năng lệch lạc, mong muốn có được những cảm giác mạnh; hiện thực giả gây ra bởi những học thuyết mù mờ, thể hiện sự bi quan và mong muốn không thể cưỡng nổi.

Trong tất cả ba thể hiện của bệnh chúng tôi tìm thấy cùng một thành phần: não không thể làm việc bình thường, và hậu quả là ý chí thấp kém, không tập trung, xúc cảm quá mức, không nhận thức hết, thiếu sự cảm thông với thế giới và loài người, và cuối cùng là hiểu lệch lạc về nghĩa vụ và đạo đức.

Thể hiện sự tương đồng khá lớn về mặt bệnh học, tất cả các hình thái bệnh trên chính là các thể hiện khác nhau của cùng một trạng thái chính – sự suy kiệt…

Điên loạn và thoái hóa luôn luôn tồn tại; nhưng trước đây nó xuất hiện đơn lẻ và không có ý nghĩa nhiều trong đời sống xã hội. Chỉ có sự mệt mỏi quá mức, do các đòi hỏi quá sức chịu đựng, tạo sự đổi mới đột ngột với cơ thể, mới tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và lan truyền các bệnh này, đe dọa cho nền văn minh giai đoạn hiện nay.

Ví dụ, trong cơ thể chúng ta luôn có tụ cầu trùng và liên cầu trùng. Nhưng để chúng có thể sinh sôi và gây nhiễm trùng nguy hiểm cho tính mạng thì trước hết cần phải có vi khuẩn hình que…”

Nordau đã nói về sự cảm nhận sai lệch hiện thực của một phần đông dân thành phố lớn. Nhiều tác phẩm nghệ thuật và học thuyết thường xô đẩy con người, tìm thấy trong họ sự thể hiện cảm xúc bệnh hoạn của chính mình, vào bào chữa cho các bản năng lệch lạc. Trong khi đó, xu thế bệnh hoạn trong ý thức xã hội được những người hoàn toàn khỏe mạnh cố tình ủng hộ và tăng cường vì lợi ích cá nhân. Nordau viết rằng tình thế có thể trở nên nguy hiểm khi “những người điên đặc biệt, tự chọn cho mình con đường riêng, đầu độc và triệt tiêu sự chống cự của linh hồn thời đại yếu đuối vì mệt mỏi”.

Kết luận chung rút ra từ phân tích của Nordau và những người kế tục ông là – cái ngưỡng ổn định của ý thức xã hội tại các thành phố lớn cực kỳ thấp. Hơn nữa, tại các thành phố đó tập trung sự chỉ đạo, các cán bộ có trình độ, các trung tâm văn hóa. Dân chúng thành thị có quan điểm khác nhiều với quan điểm dân Nga tại làng quê xa xôi. Điều này đóng vai trò quyết định trong các sự kiện của giai đoạn cuối cuộc chiến tranh thông tin, khi đòn chủ yếu là đánh vào mắt xích kém ổn định nhất – giới trí thức thành phố lớn. Mà lại có thể điều khiển được họ.

Tình trạng bất ổn tiềm tàng của dân thành phố lớn, theo Nordau, tạo nên một xã hội bệnh hoạn. Đó là hiện tượng chung của toàn bộ nền văn minh hiện đại. Thất bại của Liên Xô trong cuộc chiến tranh thông tin là một trong thể hiện của cuộc khủng hoảng đang gia tăng. Tấm gương Liên Xô tan rã cũng cho thấy thế giới hiện nay bất ổn và mong manh thế nào. Cái hệ thống chuyển sang trạng thái bất ổn định trở nên không điều khiển, và dưới tác động có thể trở nên đảo ngược so với dự đoán.

Sau khi kết thúc thắng lợi 50 năm cuộc chiến tranh thông tin – tâm lý và phân rã Liên Xô, nước Mỹ trở thành bá chủ thế giới, và sự lựa chọn con đường phát triển tiếp theo phụ thuộc vào họ. nhưng chúng ta sẽ thấy ở dưới đây, con đường được chọn là ngõ cụt, không tính đến thực tiễn của thế giới hiện đại.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo:V.A. Lisichkin & L.A. Selepin – Chiến tranh thế giới thứ III, cuộc chiến tranh thông tin tâm lý – TC II – 1999. o

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s