Tàu Tương Đàm, tàu Châu Sơn và tàu Sào Hồ của Biên đội hộ vệ 23 thuộc Hải quân Trung Quốc đã đến thăm vịnh Cam Ranh của Việt Nam từ ngày 22 đến 26/10/2016. Trước đó, ngày 2/10/2016, tàu tiếp liệu ngầm USS Frank Cable và tàu khu trục mang tên lửa USS John S.McCain của quân đội Mỹ đã đến thăm cảng quốc tế Cam Ranh của Việt Nam. Đây là chuyến thăm đầu tiên của tàu chiến Mỹ đến vịnh Cam Ranh sau chiến tranh ở Việt Nam. Từ khi bắt đầu mở cửa cảng quốc tế Cam Ranh vào ngày 8/3/2016 đến nay, ngoài Trung Quốc và Mỹ, rất nhiều hạm đội tàu chiến của Singapore, Nhật Bản, Pháp, Ấn Độ và Nga đã đến thăm. Cảng quốc tế Cam Ranh đã trở thành trụ cột quan trọng để Việt Nam triển khai ngoại giao quân sự, thể hiện rõ đặc điểm đa nguyên và cân bằng của Việt Nam trong chiến lược Nam Hải (Biển Đông).

Lý luận về sức mạnh trên biển của A.T. Mahan được tạo thành bởi ba yếu tố là hải quân, vận chuyển trên biển và hệ thống neo đậu, coi trọng vai trò của cảng biển. Mahan cho rằng tàu chiến hoặc tàu thương mại một khi rời khỏi bờ thì cần một số cảng biển có thể hỗ trợ về thương mại và tiếp nhiên liệu, nếu phải bảo vệ an ninh tuyến đường vận chuyển trên biển thì phải xây dựng các căn cứ hải quân ở ven tuyến đường này, nếu muốn kiểm soát một số vùng biển quan trọng thì phải tìm một số cứ điểm chiến lượng ở vùng phụ cận, mà biện pháp chủ yếu để giành lấy những cản biển này là mở rộng những vùng đất thuộc địa. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do chịu tác động của phong trào chống thực dân, các quốc gia có sức mạnh biển rất khó tiếp tục lấy hình thức thực dân để kiểm soát cảng biển và tuyến đường chiến lược, vịnh Subic của Philippines luôn là điểm tựa chiến lược để Mỹ bao vây Trung Quốc và Liên Xô ở Nam Hải, can thiệp vào bán đảo Đông Dương. Hơn nữa, vịnh Cam Ranh cũng trở thành điểm tựa quan trọng chiến lược để Liên Xô tiến về phía Nam. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, các nước Đông Nam Á thoát khỏi bóng đen đối đầu giữa hai cực, với sự thúc đẩy kép của chủ nghĩa dân tộc và nhu cầu phát triển kinh tế trong nước, mong muốn các nước lớn bên ngoài khu vực xóa bỏ các căn cứ quân sự. Trong bối cảnh đó, Mỹ đã rút khỏi vịnh Subic ở Philippines vào năm 1992, Nga cũng rút khỏi vịnh Cam Ranh vào năm 2002.

Những năm gần đây, thế chiến lược trên biển của Đông Nam Á tiếp tục có sự thay đổi to lớn, sự chồng lấn trong tranh chấp chủ quyền Nam Hải và sự cạnh tranh chiến lược Trung Mỹ làm cho ý nghĩa chiến lược của các cảng biển quan trọng xung quanh Nam Hải tiếp tục nổi bật. Điều khác với cạnh tranh giữa các nước lớn trong quá khứ xung quanh vùng biển là rất nhiều điểm tựa chiến lược xung quanh Nam Hải như vịnh Cam Ranh, vịnh Subic… hiện nay đang nằm trong các quốc gia vừa và nhỏ như Việt Nam, Philippines…, sử dụng vị trí địa lý ưu việt để theo đuổi lợi ích của riêng mình trong cạnh tranh nước lớn trở thành lựa chọn chung của họ. Việc Việt Nam khai thác và sử dụng vịnh Cam Ranh là ví dụ điển hình, bài viết này thông qua phân tích hiện trạng xây dựng và khai thác cảng Cam Ranh của Việt Nam để làm nổi bật chiến lượng cân bằng của Việt Nam ở Nam Hải, cuối cùng đưa ra biện pháp ứng phó của Trung Quốc.

Khái quát lịch sử và địa lý của vịnh Cam Ranh

Vịnh Cam Ranh nằm ở phần nhô ra của bờ biển phía Đông Nam của Việt Nam, tiếp giáp với Nam Hải, nằm ở khu vực trung tâm của Đông Nam Á, án ngữ tuyến đường trên biển từ eo biển Bashi đến eo biển Malacca, có vị trí chiến lược quan trọng. Quãng đường từ Nam đến Bắc của vịnh Cam Ranh là 32 km, chỗ rộng nhất là 16 km, độ sâu trung bình từ 12 đến 24m, bên ngoài là các đảo như Bình Ba, Hôn Tổ… làm lá chắn, dễ phòng thủ, khu vực cảng rất rộng, có thể dừng đỗ hơn 100 tàu có lượng giãn nước trên 40 nghìn tấn. Cảng và căn cứ quân sự nằm ở thị trấn Cam Ranh, phía Đông vịnh Cam Ranh, Ba Nguy ở bờ phía Tây là cảng quân sự và dân sự, ngoài ra còn có cảng Bình Ba.

Vị trí địa lý của vịnh Cam Ranh rất quan trọng, điều kiện cảng biển vượt trội, thực dân Pháp đã xây dựng căn cứ và pháo đài hải quân ở đây ngay từ thế kỷ 19. Tháng 4/1905, hạm đội tàu chiến của Nga tiếp viện cho chiến tranh ở khu vực Viễn Đông đã được tiếp tế ở vịnh Cam Ranh, giá trị chiến lược của vịnh Cam Ranh được quan tâm trên phạm vi lớn hơn. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã chiếm vịnh Cam Ranh, coi đây là căn cứ quan trọng cho việc tiến hành hoạt động quân sự ở Đông Nam Á.

Vịnh Cam Ranh thực sự được toàn thế giới quan tâm trong thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam. Tháng 6/1995, Mỹ điều động lục quân và công binh đổ bộ lên vịnh Cam Ranh, đã có 7500 công binh làm việc suốt ngày đêm tại khu vực này vào cuối năm 1965. Mỹ có kế hoạch xây dựng vịnh Cam Ranh thành một cảng biển dài 1km, rộng 250m, một sân bay lớn nhất Viễn Đông, có thể cho máy bay phản lực cỡ lớn cất và hạ cánh, làm các công trình quân sự như doanh trại quân đội, kho dự trữ, kho vũ khí, kho chứa xăng dầu… to lớn. Mỹ muốn xây dựng vịnh Cam Ranh trở thành cứ điểm quan trọng kiểm soát biển phía Đông Nam của Việt Nam. Việc sử dụng căn cứ Cam Ranh của quân đội Mỹ đã gặp nhiều rắc rối ngay từ đầu, một mặt, khu vực xung quanh vịnh Cam Ranh bị quân đội miền Bắc Việt Nam kiểm soát, thường xuyên bị tấn công bằng pháo kích; mặt khác, điều kiện cảng biển ở vịnh Cam Ranh vẫn hạn chế sau khi được mở rộng xây dựng, không thể đáp ứng nhu cầu vận chuyển của quân đội Mỹ. Cùng với chính sách “Việt Nam hóa chiến tranh” của Chính quyền Nixon, Mỹ đã chuyển giao cho chính quyền miền Nam Việt Nam sử dụng vào năm 1972, tháng 4/1975, trong cuộc tấn công cuối cùng thống nhất đất nước, cảng Cam Ranh được quân đội miền Bắc Việt Nam giải phóng.

Bắt đầu từ năm 1975, Liên Xô đã quan tâm đến quyền sử dụng vịnh Cam Ranh, Việt Nam ban đầu không muốn chuyển giao vịnh Cam Ranh cho Liên Xô sử dụng, nhưng khi quan hệ Trung – Việt xấu đi, Việt Nam tìm cách thiết lập quan hệ đồng minh chặt chẽ hơn với Liên Xô. Cuối năm 1978, Hiệp định hữu nghị và hợp tác Liên Xô – Việt Nam đã được ký, sau đó hai nước đã ký hiệp định bí mật về vấn đề vịnh Cam Ranh, Liên Xô đã giành được quyền sử dụng vịnh Cam Ranh trong 25 năm. Sau khi được quyền sử dụng, Liên Xô đã sửa chữa khôi phục một số cơ sở ở vịnh Cam Ranh, đồng thời xây dựng trung tâm thu thập thông tin tình báo lớn, lần lượt triển khai các loại máy bay như Mig-23, Tu-16, Tu-95, Tu-142…, đồng thời điều động tàu chiến thường trú tại đây. Vịnh Cam Ranh trở thành một trong những căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô, trở thành cứ điểm chiến lược quan trọng để Liên Xô tiến xuống phía Nam vào Ấn Độ Dương, kiềm chế Trung Quốc và Nhật Bản ở phía Bắc. Sau khi Liên Xô sụp đổ, Nga giảm mạnh sự hiện diện quân sự tại vịnh Cam Ranh, nhưng vẫn giữ lại giá trị chiến lược của căn cứ này như trước kia. Sau Chiến tranh Lạnh, Việt Nam muốn nhanh chóng thu hồi vịnh Cam Ranh vì hai lý do. Một mặt, Việt Nam cho rằng vịnh Cam Ranh có thể cải tạo thành cảng thương mại, tạo ra giá trị kinh tế to lớn. Mặt khác, lực lượng quân sự mà Nga triển khai ở vịnh Cam Ranh rất hạn chế. Việt Nam cho rằng không thể phát huy vai trò răn đe Trung Quốc, trong bối cảnh lớn quan hệ Trung – Nga ấm lên, cũng không thể phát huy được vai trò của Nga khi quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam xấu đi. Do đó, khi đàm phán về việc tiếp tục thuê vịnh Cam Ranh, Việt Nam đã đưa ra số tiền thuê mà Nga không thể chấp nhận được. Cuối cùng năm 2001, Nga đã quyết định rút khỏi vịnh Cam Ranh trước thời hạn vào năm 2002, quyền sử dụng và khai thác vịnh Cam Ranh một lần nữa trở về Việt Nam.

Hiện trang khai thác vịnh Cam Ranh vì mục đích dân sự

Nhận định quan trọng để Việt Nam thu hồi quẩn sử dụng vịnh Cam Ranh từ Nga là sự phát triển kinh tế ở đây. Hơn 10 năm qua, Việt Nam đã xây dựng và khai thác hàng loạt cơ sở thương mại dân sự ở vịnh Cam Ranh. Việc Nam phát triển vì mục đích dân sự chủ yếu tập trung ở bờ phía tây vịnh Cam Ranh. Tháng 10/2011, Việt Nam đã xây dựng thành phố Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hòa ở bờ phía Tây của vịnh, tốc độ tăng trưởng GDP của khu vực này từ năm 2000 đến năm 2010 lên tới 12,25%.

Từ năm 2005 đến 2009, ở phía Đông Bắc thành phố Cam Ranh và bờ Tây Bắc của Vịnh, Việt Nam đã xây dựng nhà máy đóng tàu với diện tích 50 ha, nhà máy đóng tàu có khả năng chế tạo tàu có trọng tải hàng vạn tấn. Nhưng nhà máy này vẫn chưa hoàn toàn được xây dựng sau năm 2009, cơ bản không có xây mới, còn nhiều đất bỏ hoang chưa khai thác. Năm 2012, có tin cho biết Công ty Oshima của Nhật Bản dự định đầu tư 180 triệu USD để xây dựng nhà máy đóng tàu mới với diện tích 304 ha tại vịnh Cam Ranh, sẽ có thể đóng những chiếc tàu có lượng giãn nước 50 nghìn tấn, nhưng dự án này sau đó không thể triển khai được do vấn đề giải phóng mặt bằng. Cũng có tin Tập đoàn Samsung của Hàn Quốc mong muốn thay thế Công ty Oshima để tiếp nhận dự án đóng tàu này, nhưng đến nay vẫn chưa có tiến triển nào.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu an ninh và biển khu vực châu Á – Thái Bình Dương (TQ).

TLTKĐB – 25/07/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s