Thành công của chủ nghĩa tư bản là vấn đề văn hóa ?

Hãy nghĩ về Bill Gates, nghiệp chủ thành công nhất và giàu có nhất thế giới. Ngoài sự thiên tài cá nhân của ông ta ra, bao nhiêu trong thành công của ông ta là do nền tảng văn hóa của ông ta và do đạo đức « Tin Lành » của ông ta ? Và bao nhiêu là do hệ thống quyền sở hữu hợp pháp của Hoa Kỳ ?

Ông ta có thể làm ra được bao nhiêu phần mềm sáng tạo nếu không có bản quyền để bảo vệ chúng ? Ông ta có thể tiến hành bao nhiêu thương vụ và đề án dài hạn nếu không có các hợp đồng có thể được thực thi ? Ông ta có thể phải chịu rủi ro là bao nhiêu lúc ban đầu nếu không có các hệ thống trách nhiệm hữu hạn và các khế ước bảo hiểm ? Ông ta có thể tích lũy được bao nhiêu tư bản nếu không có các hồ sơ quyền sở hữu để cố định và lưu trữ ở đó số tư bản ấy ? Ông ta có huy động được bao nhiêu nguồn lực nếu không có những biểu thị quyền sở hữu có thể chia, tách, kết hợp với nhau được ? Ông ta có thể làm cho bao nhiêu người khác trở thành triệu phú nếu không có khả năng chia quyền chọn cổ phiếu ? Ông ta có thể hưởng được bao nhiêu lợi ích nhờ quy mô nếu ông ta phải hoạt động trên cơ sở thủ công tản mát không thể kết hợp được ? Làm thế nào mà ông ta có thể chuyển các quyền đối với đế chế của ông ta cho con cháu và các đồng nghiệp của ông ta nếu không có quyền thừa kế ?

Tôi không nghĩ Bill Gates hoặc bất kể nghiệp chủ nào ở phương Tây lại có thể thành công mà không có các hệ thống quyền sở hữu dựa trên cơ sở của một khế ước xã hội mạnh và được tích hợp khéo. Tôi khiêm tốn đề nghị rằng, trước khi bất kể một học « giả » lớn nào, người sống ở bên trong lồng kính, cố thuyết phục chúng ta rằng thành ở chủ nghĩa tư bản đòi hỏi những đặc điểm văn hóa nhất định, thì đầu tiên chúng ta phải cố gắng xem cái gì xảy ra khi các nước đang phát triển và xã hội chủ nghĩa trước đây thiết lập các hệ thống quyền sở hữu, những hệ thống có thể tạo tư bản cho tất cả mọi người.

Trong suốt chiều dài của lịch sử, người dân đã lẫn lộn tính hiệu quả của các công cụ biểu diễn mà họ kế thừa để tạo ra giá trị thặng dư với các giá trị nội tại của nền văn hóa của họ. Họ đã quên rằng nhiều khi cái làm cho một nhóm người nào đó có lợi thế chính là việc họ đã áp dụng sáng tạo một hệ thống biểu diễn đã được phát triển bởi một nền văn hóa khác. Thí dụ, những người phương Bắc đã sao chép các định chế pháp lý của Rome cổ xưa để tổ chức bản thân họ và học chữ Hy Lạp, các ký hiệu và hệ thống số Arập để chuyển tải thông tin và tính toán. Và như thế, ngày nay, ít người ý thức được về lợi thế to lớn mà các hệ thống quyền sở hữu chính thức đã cho các xã hội phương Tây. Kết quả là, nhiều người phương Tây được hướng dẫn để tin rằng cơ sở cho chủ nghĩa tư bản thành công là đạo đức làm việc mà họ đã kế thừa hoặc là nỗi lo tồn tại tột cùng do tôn giáo của họ tạo ra – bất chấp sự thực là tất cả người dân khắp thế giới đều làm việc siêng năng khi họ có thể, và nỗi lo sinh tồn hay các bà mẹ độc đoán chẳng phải chỉ riêng của người Calvin hay người Do Thái. (Tôi cũng lo lắng như bất kể người Calvin nào trong lịch sử, đặc biệt vào các tối thứ bảy, và trong chuyện cá cược về các bà mẹ độc đoán, tôi sẽ tiến cử mẹ tôi ở Peru để đối đầu với bất kể phụ nữ nào ở New York). Cho nên, một phần lớn nội dung nghiên cứu cần thiết để giải thích vì sao chủ nghĩa tư bản thất bại ở ngoài phương Tây còn bị sa lầy trong một đống giả thiết không được xem xét và nhìn chung không thể kiểm chứng được, các giả thiết được gán cho cái nhãn « văn hóa » mà mục đích chính của nó là cho phép quá nhiều người sống trong các khu biệt lập của thế giới này có được cảm giác trịnh thượng.

Một ngày kia những lập luận văn hó này sẽ lộ ra khi bằng chứng nghiêm khắc về những tác động của các định chế chính trị và luật quyền sở hữu tốt được thấu hiểu. Trong khi đó, như Fareed Zakaria của tờ Foreign Affairs đã quan sát thấy :

Văn hóa [vấn đề] nóng bỏng. Đối với văn hóa, tôi không muốn nói tới Wagner và Chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng – chúng đã luôn nóng bỏng – mà muốn nói tới văn hóa như một sự lý giải cho các hiện tượng xã hội… Những lý giải văn hóa vẫn cứ dai dẳng bởi vì các nhà trí thức thích chúng. Họ làm cho các hiểu biết cặn kẽ về lịch sử của các nước trở nên có giá, những cái mà các nhà trí thức có rất nhiều. Họ cho thêm một dáng vẻ bí ẩn và tính phức tạp vào việc nghiên cứu các xã hội… Nhưng bản thân văn hóa có thể được nhào nặn và thay đổi. Đằng sau biết bao thái độ văn hóa, thị hiếu và sở thích là các lực lượng chính trị kinh tế nhào nặn chúng.

Điều này không có nghãi là văn hóa không đáng quan tâm. Tất cả các dân tộc trên thế giới đều có những sở thích, kỹ năng và những hình mẫu ứng xử riêng biệt, những cái có thể được coi như văn hóa. Thách thức là đi tìm hiểu xem những cái nào trong số những nét tiêu biểu này là bản sắc thực sự thâm căn cố đế, không thay đổi được của một dân tộc và những cái nào được xác định bởi những ràng buộc kinh tế và pháp luật. Liệu việc chiếm đất bất hợp pháp ở Ai Cập và Peru có phải là kết quả của các truyền thống du cư cổ xưa không thể triệt được ở những người Arập và tập quá đi tới đi lui của những người Quechuas trồng trọt ở các độ cao khác nhau của dãy núi Andes? Hay điều đó xảy ra bởi vì cả ở Ai Cập lẫn ở Peru cần hơn 15 năm để nhận được các quyền sở hữu hợp pháp trên đất sa mạc? Theo kinh nghiệm của tôi, chiếm đất chủ yếu là do nguyên nhân thứ hai. Khi người dân được tiếp cận đến một cơ chế chính thức để chiếm đất, cơ chế phản ánh khế ước xã hội, thì họ sẽ đi theo con đường hợp pháp, và chỉ có một thiểu số, giống ở mọi nơi khác, sẽ cứ khăng khăng bám lấy việc chiếm hữu ngoài pháp luật. Phần lớn ứng xử mà ngày nay được cho là do di sản văn hóa lại không phải là kết quả tất yếu của các đặc điểm tộc người hoặc khí chất của dân tộc, mà là kết quả của sự đánh giá duy lý của họ về các chi phí và lợi ích tương đối của việc tham gia vào hệ thống quyền sở hữu hợp pháp.

Quyền sở hữu hợp pháp trao quyền cho các cá nhân trong mọi nền văn hóa, và tôi nghi ngờ rằng quyền sở hữu tự nó mâu thuẫn với bất kể nền văn hóa chủ yếu nào. Những người nhập cư Việt Nam, Cuba, và Ấn Độ rõ ràng đã chẳng có mấy khó khăn để thích ứng với luật quyền sở hữu Hoa Kỳ. Nếu được nghĩ ra một cách đúng đắn, luật quyền sở hữu có thể với đến phạm vi các nền văn hóa để làm tăng sự tin cậy giữa chúng và đồng thời, làm giảm chi phí để đưa các đồ vật và những tư tưởng đến với nhau. Quyền sở hữu hợp pháp xác định các tỷ giá trao đổi giữa các nền văn hóa khác nhau và như vậy cho chúng nền tảng của những sự tương đồng kinh tế, từ đó để tiến hành kinh doanh với nhau.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Hernando de Soto – Bí ẩn của vốn – NXB CTQG 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s