Niall Ferguson

Những gì có thể giống một kiểu chiến lược theo Kissinger gợi ý.

Mười ngày sau khi Donald J. Trump trúng cử để trở thành tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ, ít nhiều có một sự thiếu hoàn toàn chắc chắn về việc chính sách đối ngoại của ông sẽ đi theo chiều hướng nào, nhưng có nhiều suy đoán – mà phần lớn là hoang mang sợ hãi – dự trên những gì ông Trump đã nói trong các bài phát biểu và trả lời phỏng vấn. Song hầu như không có vị tổng thống nào đưa ra chính sách đối ngoại chỉ dựa hoàn toàn vào những những tuyên bố hoa mỹ khi vận động. Hầu như không có sự cắt đứt hoàn toàn với chính sách của những người tiền nhiệm. Và, quả thực, trên thực tế hầu như không thể nói có cái gì cố kết như một học thuyết về chính sách đối ngoại,  một đại chiến lược lại càng không. Kinh nghiệm cũng gợi ý rằng chính sách đối ngoại của chính quyền Trump sẽ phụ thuộc nhiều vào việc những ai là người nắm giữ các cương vị chủ chốt – như Bộ trưởng Ngoại giao và Bộ trưởng Quốc phòng, cũng như Cố vấn An ninh Quốc gia – và vào việc những ai sẽ chiến thắng cuộc chiến liên bộ mà sẽ không tránh khỏi dẫn đến kết quả là: trận chiến vì quyền ưu tiên của bộ máy quan liêu, trận chiến vì quyền tiếp cận thường xuyên với Tổng thống, cuộc chiến về sự rò rỉ tin tức cho truyền thông.

Thay vì tư biện về những câu hỏi quá độ như thế, giờ đây có lẽ sẽ có tính xây dựng hơn nếu ta tìm hiểu xem ông Trump thực sự có những lựa chọn chiến lược nào trước những thông số mà thực tiễn có thể đưa ra. Trong bối cảnh này, thật hữu ích là nhà cố vấn và là người thực hành chiến lược đang còn sống và được tôn trọng nhất của quốc gia đã bộc lộ một số quan điểm của mình. Không hậu thuẫn bất kỳ một ứng cử viên tổng thống hàng đầu nào, nhưng đã từng gặp gỡ cả hai ứng viên trong chiến dịch vận động của họ, Henry Kissinger xứng đáng được mọi người chú ý. Tất nhiên không có sự chắc chắn nào cho thấy quan điểm của ông sẽ được vị Tổng thống mới đắc cử hoặc nhóm cố vấn an ninh quốc gia của ông này chú ý. Có thể sẽ là điên rồ mới giả định rằng vị Tổng thống mới đắc cử không coi quan điểm thường tuyên bố của mình là nghiêm túc, và rằng quan điểm của ông không đặc biệt phù hợp với quan điểm của Henry Kissinger. Mà ý kiến tư vấn của Kissinger đang được tìm kiếm, và các quan chức của nội các sắp tới có thể dễ nghe theo nó hơn là không. Vì thế không có lý do nào để cho rằng cái chính quyền đang thai nghén sẽ kết hợp chặt chẽ với một học thuyết chiến lược riêng đến mức những gì xảy ra tiếp theo có thể không được thừa nhận ngay lập tức.

Chúng ta hãy bắt đầu bằng bối cảnh địa chính trị mà ông Trump thừa kế được từ người tiền nhiệm. Trong cuốn sách World Order (Trật tự thế giới) mới xuất bản gần đây của mình (2014), Kissinger lập luận rằng thế giới đang trong một điều kiện bấp bênh mấp mé sa vào tình trạng hỗn loạn quốc tế. Điều này không chỉ do những chuyển dịch trong cán cân quyền lực hữu hình từ Tây sang Đông, mà còn do tính hợp pháp của trật tự thế giới sau chiến tranh đang bị thách thức. Bốn quan điểm ganh đua về trật tự thế giới – trật tự châu Âu theo Hiệp ướng Westphalia, trật tự Hồi giáo, trật tự Trung Hoa, và trật tự Hoa Kỳ – tất cả đang trong các giai đoạn khác nhau của sự biến hóa, nếu không nói là sự suy tàn. Do đó, nói rộng ra thì không có quan điểm nào trên đây có tính hợp pháp thực sự cả. Các thuộc tính đang hiện ra của tình trạng mất trật tự thế giới mới là sự hình thành các “khối khu vực” với các thế giới quan bất tương hợp. Kissinger lo sợ rằng các khối này có thể nghiền nát nhau theo một cách leo thang: “Một cuộc tranh giành giữa các khu vực có khi còn hủy diệt ghê gớm hơn so với cuộc tranh giành giữa các quốc gia từ trước đến nay”.

Trái với quan điểm của những ai cho rằng thế giới đã vượt qua mọi viễn cảnh về cuộc chiến tranh tổng lực lớn, Kissinger quan niệm rằng bối cảnh toàn cầu hiện tại đang rất dễ bốc cháy. Hiện đang có một sự căng thẳng sâu sắc giữa toàn cầu hóa kinh tế với sự tồn tại chính trị dai dẳng của thể chế quốc gia – dân tộc, là điều mà cuộc khủng hoảng tài chính 2008 đã bóc trần. Thứ hai, chúng ta đang mặc nhận sự phổ biến vũ khí hạt nhân vượt ra khỏi tầm kiểm soát của “câu lạc bộ” Chiến tranh Lạnh. Chúng ta cũng có một địa hạt chiến tranh thông tin mới, một phiên bản mới lạ của “quốc gia tự nhiên” của Hobbes. Ở đây và trong cuộc phỏng vấn vừa qua của ông với Jeffrey Goldberg, cũng như trong những cuộc nói chuyện riêng của ông với người viết tiểu sử cho ông, Kissinger đã phác thảo bốn giả thiết mà ông coi như là những chất xúc tác có khả năng nhiều nhất dẫn đến một cuộc xung đột quy mô lớn:

1/ Một sự hỏng hóc trong quan hệ Trung – Mỹ, từ đó hai nước ngã lộn vào một cái được gọi là “Bẫy Thucydides” mà lịch sử đặt ra cho một cường quốc đang tồn tại và một cường quốc đang nổi lên để thách thức nó;

2/ Một sự đổ vỡ quan hệ giữa nước Nga với phương Tây dựa trên sự không hiểu biết lẫn nhau và có khả năng là bởi:

3/ Một sự sụp đổ của những gì còn lại từ sức mạnh cứng của châu Âu và/hoặc ý chí sử dụng nó, do các nhà lãnh đạo châu Âu hiện đại không có khả năng chấp nhận rằng ngoại giao mà không có sự đe dọa vũ lực chỉ là chuyện lời nói gió bay; và/hoặc

4/ Một sự leo thang xung đột ở Trung Đông do việc chính quyền Obama trong mắt của các quốc gia Arập và Israel, đang sẵn sàng trao quyền bá chủ khu vực cho một nước Iran vẫn đang còn là một nước cách mạng.

Nếu Hoa Kỳ không có một chiến lược chặt chẽ, thì một hoặc kết hợp các mối đe dọa này sẽ có nguy cơ biến một sự lộn xộn thành một đám cháy lớn.

Trong một châu Á đang ngày càng theo xu hướng của Hiệp ước Westphalia, người ta có thể trông chờ Hoa Kỳ đóng vai trò cân bằng cán cân, nhưng nó đồng thời “vừa là đồng minh của Nhật Bản lại vừa là đối tác công khai của Trung Quốc – một tình huống có thể so sánh được với tình huống của Bismarck khi ông này thực hiện một liên minh với Áo và tạo được cân bằng với Nga bằng một hiệp ước. Xét một cách nghịch lý, chính cái tình trạng mơ hồ này là cái đã duy trì được tính linh hoạt của thế cân bằng châu Âu. Nhân danh sự minh bạch, việc từ bỏ tính mơ hồ đã gây ra một chuỗi gia tăng đối đầu, dẫn đến đỉnh điểm là cuộc Chiến tranh Thế giới thứ nhất.

Trong cuốn World Order, Kissinger không nói rõ ràng rằng chính sách non yếu “xoay trục sang châu Á” của chính quyền Hoa Kỳ là một sự nhắc lại sai lầm của các nhà lãnh đạo Đức sau Bismarck; ông ấy không cần nói thế.

Ông ấy nói rõ hơn về Trung Đông, nơi mà ông dứt khoát bác bỏ những lý lẽ do chính Obama đưa ra trong bài tiểu sử sơ lược của ông hồi tháng 1/2014 trên tờ báo New York Times. Obama đã đảm bảo với David Remnick rằng mục tiêu của ông là đạt được sự cân bằng giữa lực lượng người Sunni và lực lượng người Shia. Ý kiến phản đối của Kissinger là “Nước Mỹ chỉ có thể thực hiện được vai trò này trên cơ sở của sự can dự chứ không phải là của sự rút lui”. Trên thực tế, Obama đã kết hợp nghệ thuật hùng biện của thuyết Wilson vớ sự rút lui chiến lược chủ yếu do tính toán chính trị trong nước.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Văn Dân

Nguồn: Niall Furgeson – Donald Trump’s New World Order – The American Interest, Vol 12, No 4, 21/11/2016.

TN 2017 – 1, 2 & 3

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s