Như vậy, chủ nghĩa dân tộc là một nhân tố rất quan trọng dẫn đến tình trạng phân mảnh trên bản đồ địa chính trị thế giới. Các nhà khoa học đã nhận định rằng: “Từ xưa đến nay, lịch sử loài người chính là năm trong một trạng thái vỡ nát như vậy, cả thế giới là một chiếc đĩa do các mảnh vỡ cấu thành. Sự trỗi dậy và phát triển của chủ nghĩa dân tộc hết lần này đến lần khác tạo nên bản đồ của rất nhiều quốc gia và thế giới, xây dựng lại lịch sử thế giới, phá vỡ mảnh lớn để phân hóa thành rất nhiều mảnh nhỏ”. Đáng buồn thay, nhận định trên đây về vai trò của chủ nghĩa dân tộc không chỉ đúng với các đế quốc cổ địa, mà còn đúng với cả những cường quốc liên bang hiện đại như Liên Xô và Nam Tư về sau. Về vấn đề này, ngay từ năm 1978, nhà nữ sử học người Pháp Hélène Carrère d’Encausse đã xuất bản cuốn sách Đế chế tan vỡ  – Cuộc nổi dậy của các dân tộc ở Liên Xô, trong đó bà tiên đoán trước 13 năm về sự sụp đổ của Liên Xô. Mà một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự sụp đổ này là chủ nghĩa dân tộc. Bà cho rằng, xã hội Liên Xô từ sau năm 1917 đã trở thành “Một xã hội trong đó sự khác nhau của các dân tộc luôn thắng thế sự đồng nhất của lý tưởng”. Bà cho rằng chính cái chính sách của Stalin chủ trương triệt phá chủ nghĩa dân tộc của các dân tộc thiểu số ngoài Nga, đã là một trong những nguyên nhân dẫn đến xung đột ngấm ngầm giữa các dân tộc ngoài Nga với dân tộc Nga, từ đó tất yếu sẽ dẫn đến sự tan vỡ của Liên bang Xô viết, một nhà nước liên bang mà theo bà đó thực sự là một đế quốc, trong đó dân tộc Nga luôn có quyền bình đẳng hơn các dân tộc khác.

Rõ ràng, chủ nghĩa dân tộc đang trở thành một mối quan ngại của nền chính trị thế giới. Đây là vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Chẳng hạn như nữ tác giả người Pháp Marisol Touraine, chuyên gia về các vấn đề chiến lược và quan hệ quốc tế, trong cuốn sách Le bouleversement du monde – Géopolitique du XXIe siècle [Sự đảo lộn thế giới: Địa chính trị thế kỷ XXI], đã nhận định rằng, chủ nghĩa dân tộc ở cuối thế kỷ 20 đang đưa châu Âu quay trở về với tình trạng của năm 1918, là năm kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất và xuất hiện khái niệm “quốc gia dân tộc”, khởi đầu của giai đoạn phân mảnh địa chính trị đầu tiên của thế kỷ 20. Thậm chí một chuyên gia người Anh đã dự báo: “Xung đột dân tộc rất có thể trở thành vấn đề chính trị của thế kỷ 21. Giáo lý [về quyền] tự quyết dân tộc, một trong những yêu cầu điển hình của thế kỷ 20, sẽ trở thành câu thần chú của thế kỷ 21”. Và các nhà khoa học cho rằng “Thế giới vẫn đối mặt với nguy cơ vỡ nát hơn nữa”.

Như vậy, rõ ràng là vị trí địa lý và chủ nghĩa dân tộc của một khu vực có vai trò không nhỏ trong xu hướng địa chính trị phân mảnh của thời đại ngày nay. Và chúng ta cũng thấy là xu hướng địa chính trị phân mảnh luôn là nhân tố làm cho thế giới trở nên phức tạp. Có những nơi xung đột kéo dài hàng mấy chục năm không dứt, như xung đột Palestine – Israel ở Trung Đông, xung đột ly khai của người Kurd ở Thổ Nhĩ Kỳ, của người Catalogne ở Tây Ban Nha, của ngời Ailen ở Bắc Ailen thuộc Anh, của người Tamil ở Sri Lanka, của người Tây Tạng ở Trung Quốc; xung đột tranh chấp ở khu vực Kashmir giữa Ấn Độ và Pakistan và Trung Quốc… Song, có một thực tế là hiện tượng phân mảnh bao giờ cũng phải có sự hậu thuẫn của các cường quốc, hay nói chính xác hơn là những quốc gia phân mảnh đều phải núp dưới bóng của một xu hướng hợp nhất nào đó. Ở đây, sự ảnh hưởng của các cường quốc tỏ ra có vai trò to lớn. Và cũng có thể nói xu hướng hợp nhất vẫn có sức chi phối không thể xem nhẹ. Đó là điều chúng ta cần nắm rõ để có đối sách hợp lý trong các vấn đề dân tộc và quốc tế.

III/ Xu hướng địa chính trị văn hóa

Văn hóa đã được quan tâm từ lâu, nhưng bộ môn văn hóa học mới được hình thành và phát triển từ thế kỷ 20. Từ đó, người ta cũng bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu vai trò của văn hóa trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong tinh thần đó, các nhà địa chính trị cũng bắt đầu quan tâm đến vai trò của văn hóa trong các khu vực địa chính trị thế giới. Người đầu tiên được coi là khởi xướng xu hướng này trong địa chính trị hiện đại là Samuel Huntington, tác giả của một lý thuyết có tên là “Sự đụng độ giữa các nền văn minh” trong thế giới hậu Chiến tranh Lạnh.

Tuy nhiên, quan điểm của Huntington không phải là hoàn toàn mới. Theo các nhà nghiên cứu, quan điểm về sự đụng độ giữa các nền văn minh đã có mầm mống từ giữa thế kỷ 20. Chẳng hạn khi nói về các nền văn minh trên thế giới, nhà sử học nổi tiếng người Anh Arnold Toynbee đã nói đến những mâu thuẫn sâu xa “giữa nền văn minh phương Tây, với tư cách là phía xâm hấn, với các nền văn minh khác với tư cách là nạn nhân”. Toynbee đã đặc biệt lưu ý rằng: chủ nghĩa Marx, được sinh ra ở phương Tây và được cải hóa ở Nga, chính là hiện thân của sự “tự trừng phạt” của phương Tây, là “phát súng đầu tiên trong cuộc phản công lại phương Tây”. Và Toynbee viết tiếp: “Tuy nhiên, không loại trừ khả năng là loạt súng Nga dưới hình thức chủ nghĩa cộng sản đối với chúng ta là cái gì đó không đáng kể, khi mà các nền văn minh hùng mạnh hơn nhiều của Ấn Độ và Trung Quốc, đến lượt mình, đáp lại sự thách thức của phương Tây chúng ta”.

Như vậy, chính Toynbee mới là người khởi xướng cái ý tưởng về sự đụng độ giữa các nền văn minh. Nhưng Toynbee mới chỉ gợi ý về một sự mâu thuẫn giữa Đông và Tây chứ chưa vạch ra một lý thuyết rành rẽ về sự đụng độ giữa các nền văn minh như Huntington.

Trong bài báo Sự đụng độ giữa các nền văn minh? In năm 1993, Huntington – khi ấy là Viện trưởng Viện nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Harvard (Hoa Kỳ) – đã viết: “Tôi cho rằng nguồn gốc cơ bản của sự xung đột trong thế giới mới này trước hết sẽ không thuộc về tư tưởng hoặc kinh tế. Những chia cắt lớn giữa loài người và nguồn gốc chi phối xung đột sẽ thuộc về văn hóa. Quốc gia dân tộc vẫn sẽ là những tác nhân mạnh nhất trong các vấn đề thế giới, nhưng những xung đột chính trong chính trị toàn cầu sẽ xuất hiện giữa các dân tộc và các nhóm văn minh khác nhau. Sự đụng độ giữa các nền văn minh sẽ chi phối nền chính trị toàn cầu. Những đường đứt đoạn giữa các nền văn minh sẽ trở thành các chiến tuyến trong tương lai. Như vậy, mặc dù đầu đề bài báo có dấu chấm hỏi để làm ra vẻ có sự hoài nghi về khả năng đụng độ, nhưng lập luận của Samuel Huntington cho thấy sự đụng độ là không thể tránh khỏi. Và Huntington tuyên bố: “Xung đột giữa các nền văn minh sẽ là giai đoạn cuối cùng của tiến trình xung động trong thế giới hiện đại”.

Đến năm 1996, Huntington đã phát triển quan điểm của bài viết nói trên và xuất bản thành một cuốn sách mang tên Sự đụng độ giữa các nền văn minh và việc sắp xếp lại trật tự thế giới. Dựa trên tiêu chuẩn văn hóa – tôn giáo, Huntington phân ra các nền văn minh chủ yếu cộng với một nền văn minh khả dĩ. Đó là: 1/ Văn minh phương Tây, tập trung vào Australia, Bắc Mỹ và Tây Âu; 2/ Văn minh Mỹ Latin, gồm Trung Mỹ và Nam Mỹ; 3/ Văn minh chính giáo phương Đông, gồm khu vực thuộc Liên Xô cũ (trừ Trung Á) và phần lớn Đông Âu; 4/ Văn minh Hán, gồm Trung Quốc, bán đảo Triều Tiên, Singapore, Đài Loan, Việt Nam; 5/ Văn minh Hindu, gồm Ấn Độ, Nepal; 6/ Văn minh Nhật Bản; 7/ Văn minh Hồi giáo, gồm Trung Đông, Tây Phi, một số nước Nam và Đông Nam Á; 8/ Văn minh khả dĩ Cận Sahara ở Nam Phi, Trung Phi, Đông Phi.

Ngoài ra, có những quốc gia có sự pha trộn giữa các nền văn minh nên không được Huntington  xếp riêng vào một nền văn minh chủ chốt nào trong số 8 nền văn minh nói trên. Thậm chí có những nước không thuộc một nền văn minh nào và được Huntington coi là những quốc gia “cô độc”, ví dụ như Ethiopia, Haiti và đặc biệt là Israel. Trong cuốn sách đó, Huntington đã mô tả sự phân chia 8 nền văn minh chủ chốt cùng với một số nền văn minh thứ yếu và cả những nền văn minh “cô độc” bằng mô hình bản đồ sau:

 

Hình: Sự phân bố các nền vănminh trên thế giới theo Huntington

 

Và ông đã trình bày cụ thể sự đụng độ giữa 8 nền văn minh chủ chốt theo biểu đồ dưới đây:

 

HÌnh: Sơ đồ mô tả các mối quan hệ giữa các nền văn minh theo Huntington

 

Theo GS.TS. Zotov (Nga), quan điểm của Huntington cũng có một cơ sở thực tế. Ông cho rằng “Một trong những hiện tượng xã hội chủ đạo ở cuối thế kỷ 20  là xu thế phi thế tục hóa thế giới, tức là sự phục sinh tôn giáo sau xu thế “vô thần” của thời kỳ từ thế kỷ 17 đến nửa đầu thế kỷ 20. “Sự phục thù của Chúa Trời” đó thường diễn ra dưới hình thức các phong trào nguyên giáo [tiếng Anh: fundamentalism] mang tính chiến đấu, không khoan nhượng với các tôn giáo khác. Tôn giáo chia rẽ con người ta còn mạnh hơn là nguồn gốc sắc tộc, dân tộc. Một người có thể là nửa Pháp, nửa Arab và thậm chí có thể là công dân của cả hai quốc gia đó. Nhưng làm một tín đồ nửa Công giáo và nửa Hồi giáo thì phức tạp hơn rất nhiều”.

(còn tiếp)

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Nguyễn Văn Dân – Địa chính trị trong chiến lược và chính sách phát triển quốc gia – NXB KHXH 2011.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s