III/ Những thay đổi mới trong chính sách Biển Đông của Malaysia “thời đại hậu Trọng tài”

Hai năm gần đây, một số động thái đáng chú ý của Malaysia liên quan đến vấn đề Biển Đông: Một là tiếp tục tăng cường thăm dò khai thác dầu khí tại bãi cạn South Luconia, kể từ tháng 8/2014, tăng thêm 3 giàn khoan; hợp tác với Australia thuê tàu trắc địa của Mỹ, tiến hành thăm dò tại bãi cạn South Luconia, còn thuê tàu thăm dò của Na Uy để thăm dò bãi cạn North Luconia. Hai là thái độ không thân thiện liên quan đến Biển Đông của người dân Malaysia có phần tăng lên. Tháng 4/2015, tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ 26, dưới sự kích động của Philippines và Việt Nam, trong bài phát biểu với tư cách nước chủ tịch luân phiên, Malaysia đã ám chỉ việc mở rộng xây dựng các hòn đảo tại Trường Sa của Trung Quốc, chỉ trích hành động này làm suy yếu sự tin tưởng lẫn nhau, có thể gây tổn hại đến hòa bình, an ninh và ổn định ở Biển Đông. Tháng 6/2015, Tư lệnh Hải quân Hoàng gia Malaysia, đô đốc Tan Sri Abdul Aziz Jaafar đã công bố những bất đồng giữa Trung Quốc và Malaysia tại Biển Đông, tiết lộ với truyền thông phương Tây tình hình hoạt động của các tàu chấp pháp Trung Quốc tại South Luconia, phóng đại sự “đối đầu” của tàu thuyền Trung Quốc và Malaysia tại South Luconia, tuyên bố sẽ có những hành động ngoại giao, đồng thời sẽ tiếp tục duy trì sự hiện diện quân sự tại vùng biển này, thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế. Những động thái này cho thấy mối hoài nghi của Malaysia đối với Trung Quốc có phần sâu sắc hơn, cũng chứng tỏ bất đồng trong nước Malaysia trong việc xử lý vấn đề Biển Đông trầm trọng hơn cũng như những ảnh hưởng tiêu cực của thế lực ngoài khu vực đối với Malaysia đang tăng lên.

Đầu năm 2016, Ngoại trưởng Malaysia Anifah Aman trong cuộc phỏng vấn của phóng viên báo “Utusan Malaysia” đã nói có quan điểm cho rằng so với Philippines và Việt Nam, lập trường của Malaysia trong vấn đề Biển Đông quá “ôn hòa”, Anifah cho biết mỗi quốc gia đều có phương thức xử lý tranh chấp của riêng mình, không có cái gọi là “ôn hòa” hay “cứng rắn”, quan trọng là phải bảo vệ được lợi ích quốc gia. Ông một lần nữa nhấn mạnh hai lập trường đã xác định rõ ràng của Malaysia trong tranh chấp Biển Đông: một là, gảii quyết tranh chấp lãnh thổ liên quan đến nhiều quốc gia bằng phương thức hòa bình; hai là, giải quyết vấn đề cần phải căn cứ vào luật pháp quốc tế, bao gồm “Công ước Liên hợp quốc về luật biển”. Khi được hỏi đến lập trường của Malaysia trong tranh chấp Biển Đông, Ngoại trưởng Anifah nói: Malaysia không công nhận tuyên bố lãnh thổ của Trung Quốc trong “đường 9 đoạn”, bởi vì tuyên bố này không phù hợp với những quy định liên quan trong “Công ước Liên hợp quốc về luật biển”.

Đối lập với những lời nói trên của Ngoại trưởng Anifar, Bộ trưởng Quốc phòng Malaysia Hishammuddin Tun Hussein lại cho thấy thái độ có phần cứng rắn của Chính phủ Malaysia. Nửa đầu năm 2014, Hishammuddin cho biết Chính phủ Malaysia có khả năng thực hiện “kế hoạch khu an ninh đặc biệt Sarawak”, cụ thể là thành lập một căn cứ hải quân mới tại cảng Bintulu bang Sarawak (cách bãi cạn James không đến 100 km), mục đích là tăng cường bảo vệ khu vực Biển Đông và các mỏ dầu của Malaysia, đồng thời còn gia tăng mua sắm vũ khí để tăng cường cho lực lượng hải không và không quân.

Tháng 7/2016, “Tòa Trọng tài Biển Đông” kết thúc. Cùng với việc Duterte lên nắm quyền, quan hệ Trung Quốc – Philippines một dạo vô cùng căng thẳng đã được cải thiện rất nhiều. Chính quyền Duterte theo đuổi chính sách ngoại giao độc lập đang cố gắng thoát khỏi sự phụ thuộc vào Mỹ, bày tỏ thiện chí lớn trong việc cải thiện quan hệ Trung Quốc – Philippines. Vấn đề Biển Đông tuy có phần dịu đi trong nội bộ Trung Quốc – ASEAN, nhưng vẫn đối mặt với “cái nhìn hậm hực” của các nước lớn ngoài khu vực. Trong môi trường đó, nguyên tắc cơ bản của chính sách thực dụng truyền thống trong việc đối phó với tranh chấp Biển Đông của Chính phủ Malaysia sẽ không thay đổi, nhưng sẽ điều chỉnh dần từng bước.

1/ Mối lo âu về Trung Quốc tăng lên rõ rệt, những cân nhắc về kinh tế vẫn quan trọng hơn tranh chấp chủ quyền

Từ năm 2013, tình hình Biển Đông tiếp tục nóng lên, do chịu ảnh hưởng bởi sự can thiệp với mức độ không ngừng tăng lên của thế lực bên ngoài khu vực mà đại diện là Mỹ đối với vấn đề Biển Đông cũng như sự kích động của một số nước tuyên bố chủ quyền như Philippines và Việt Nam, mối lo âu chiến lược của Malaysia đối với Trung Quốc tăng lên rõ rệt, chính sách Biển Đông của Malaysia một dạo còn thay đổi “lệch khỏi quỹ đạo” Trung Quốc. Phòng bị chiến lược của Malaysia đối với diễn biến của tình hình Biển Đông và đối với vai trò chủ động của Trung Quốc tại Biển Đông tăng lên rõ rệt.

Cần lưu ý, 3 năm gần đây, cùng với việc sức mạnh quân sự của Trung Quốc cũng như vai trò chủ động tại khu vực Biển Đông của Trung Quốc tăng lên, Malaysia lựa chọn biện pháp an ninh và chính trị mang tính phòng bị đối với Trung Quốc. Chủ yếu bao gồm 3 phương diện: Một là, tăng cường bố trí quân sự, đẩy nhanh nâng cao sức mạnh hải quân; hai là, tăng cường hợp tác an ninh quân sự với thế lực ngoài khu vực chủ yếu là Mỹ, lợi dụng tối đa sự hoài nghi chiến lược lẫn nhau giữa Trung Quốc và Mỹ, để Mỹ cân bằng sức mạnh quân sự và tầm ảnh hưởng khu vực không ngừng tăng lên của Trung Quốc, đạt được mục đích duy trì thế cân bằng ở khu vực Biển Đông; ba là, nỗ lực thúc đẩy ký kết “Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC), đẩy mạnh hợp tác và liên kết với Philippines, Việt Nam, thúc đẩy đoàn kết nội bộ ASEAN, làm suy yếu ưu thế của lực lượng biển Trung Quốc tại khu vực Biển Đông.

Tuy nhiên, cùng lúc đó, những năm gần đây, thâm hụt khổng lồ của Quỹ đầu tư nhà nước (1MDB) khiến Chính quyền Najib đang phải đối mặt với cục diện nghi ngờ và chất vấn ngày càng căng thẳng trong nước. Đối với Chính phủ Malaysia, phát triển kinh tế quốc gia và ổn định tình hình kinh tế đương nhiên là ưu tiên hàng đầu. Và trong bối cảnh chung phát triển kinh tế toàn cầu không mấy lạc quan, Trung Quốc với thực lực kinh tế ổn định vững vàng đã trở thành lực lượng quan trọng mà Chính phủ Malaysia cần dựa vào. Tại thời điểm quan trọng này Chính phủ Trung Quốc cũng thể hiện thành ý của mình đối vớiv iệc thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ kinh tế thương mại Trung Quốc – Malaysia. Điều này đối với Chính quyền Najib, là sự hỗ trợ tuyệt với. Có thể nói, trong tình hình này, đối mặt với tranh chấp Biển Đông, cân nhắc về kinh tế của Malaysia rõ ràng quan trọng hơn tranh chấp chủ quyền.

Từ ngày 31/10 đến ngày 6/11/2016, Thủ tướng Najib đi thăm Trung Quốc. Đây là chuyến thăm Trung Quốc lần thứ 7 của cá nhân ông. Đến thăm Trung Quốc lần này, Thủ tướng Najib đã ký kết với Trung Quốc 14 bản ghi nhớ trị giá 230 tỷ NDT giữa các doanh nghiệp, đồng thời còn ký kết 16 bản ghi nhớ giữa 2 chính phủ. Các thỏa thuận hợp tác bao gồm nhiều lĩnh vực như xây dựng cơ sở hạ tầng, vận tải hàng không, tài chính, kiến trúc, nông nghiệp, giáo dục, kiểm tra chất lượng, thuế, hải quan, phòng vệ, xây dựng cảng, xây dựng đường ống dẫn khí…

Nhà nghiên cứu Hứa Lợi Bình của Học viện Khoa học xã hội Trung Quốc chỉ ra rằng chuyến thăm của Thủ tướng Najib chủ yếu là thúc đẩy hợp tác “Vành đai và Con đường” ở Malaysia. Hợp tác trong tương lai giữa Trung QUốc và Malaysia cần rất nhiều “sự kết nối”, kinh tế thương mại, bến cảng, hợp tác sản xuất, khởi động các dự án lớn như Đường sắt cao tốc Kuala Lumpur – Singapore đều cần phải kết nối với Trung Quốc. Hồ Dật Sơn, cựu thư ký chính trị của Thủ tướng Najib, nhà nghiên cứu cấp cao Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế Rajaratnam, Đại học Công nghệ Nanyang Singapore cho rằng Malaysia nhận thức rõ ràng rằng trong tình hình kinh tế thế giới không mấy khởi sắc, Trung Quốc là bộ máy duy nhất có thể thúc đẩy kinh tế khu vực. Chính phủ Malaysia rất coi trọng vai trò đầu tầu kinh tế của Trung Quốc. Có thể nói, ưu tiên hàng đầu trong chuyến đi này của Najib là tìm bước đột phá mới để từng bước nâng cấp quan hệ kinh tế thương mại Trung Quốc – Malaysia, bởi vì vị trí đối tác thương mại lớn nhất với Trung Quốc trong các nước ASEAN mà Malaysia duy trì trong nhiều năm đã bị Việt Nam vượt qua vào năm 2016. Và mục tiêu tổng kim ngạch thương mại đạt 160 tỷ USD vào năm 2017 mà hai nước dự kiến có đạt được hay không, triển vọng dường như không mấy lạc quan. Vì vậy, Chính quyền Najib mong muốn nhanh chóng thúc đẩy tiến triển thực chất trong hợp tác kinh tế thương mại Trung Quốc – Malaysia, mà việc thúc đẩy và thực hiện các thỏa thuận hợp tác trong các lĩnh vực giữa hai nước ở một mức độ rất lớn sẽ làm dịu tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông.

(còn tiếp) 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Đông Nam Á (TQ)

TLTKĐB – 19 & 20/12/2017

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s