Martin Libicki

Nhờ có điều khiển học không gian – có thể được hiểu như là tổng số những khâu nối và nút điện toán toàn cầu – mà bất kỳ một dữ liệu nào cũng có thể có mặt gần như tức thời ở bất cứ nơi đâu.

Phải chăng như vậy điều khiển học không gian sẽ xóa bỏ địa lý? Ông Colin Gray, trong bài viết rất hay, đã nêu lên lập luận đúng đắn, trả lời rằng không phải như vậy. Ông cho rằng người ta không thể tùy tiện bất chấp ý nghĩa của bối cảnh địa lý đối với chính trị quốc tế dựa trên sức mạnh. Nếu vậy người ta nêu lên câu hỏi sau đây có đích đáng không? Phải chăng người ta có thể làm cho địa lý của an ninh quốc gia biến đổi đến mức không còn nhận ra được nữa? Và nếu đúng như thế, nó sẽ biến đổi như thế nào?

Phần lớn những kiến thức về địa lý và địa chính trị của chúng ta sẽ còn có thể được áp dụng, chừng nào nhân loại vẫn còn sử dụng những công cụ được giới hạn trong những môi trường chậm chạp của nó – chẳng hạn như vận tải trên bộ hoặc trên biển. Nhưng rồi với sự ra đời của một phương tiện mới, sẽ xuất hiện một logic địa lý mới; và khi tầm quan trọng của phương tiện mới gia tăng, thì logic của nó sẽ không chi phối những phương tiện cũ mà còn làm biến đổi cả những phương tiện cũ nữa. Thí dụ, với sự phát minh ra máy bay, nước Anh mặc dù vẫn có hạm đội đó, nhưng có thể bị tiến công trực tiếp từ châu Âu. Còn chiến dịch của Hoa Kỳ tiến đánh Nhật  đã phải chịu sự chi phối chung của cùng một phương thức: tìm kiếm từng hỏn đảo nhằm tiếp cận mỗi lúc một gần hơn bằng đường không đối với Nhật Bản. Khi tên lửa đạn đạo sử dụng không gian làm môi trường xung đột, thì Hoa Kỳ và Liên Xô đều có thể gây nguy hiểm trực tiếp cho nhau. Và yếu tố đó rồi cũng chi phối luôn cuộc đối đầu giữa các siêu cường xuyên qua Trung Âu.

Bài viết này đề cập hai trong số bốn chủ đề của Colin Gray. Đó là ý nghĩa của địa lý khi đứng trước công nghệ biến đổi và khi đối mặt với những mối quan hệ của sự liên kết. Những người bênh vực cho địa lý viện vào căn cứ chủ yếu: hậu cần vẫn tồn tại (từ đó người ta bênh vực cho cả lực lượng hải quân) cùng với những nhu cầu của kiểm soát mặt đất (tức là lực lượng trên bộ). Những người thuộc phía phản biện thì đưa ra lập luận nhận định rằng: do người ta đã có đầy đủ thông tin, nên chiến tranh có thể trở nên chuẩn xác đến mức không cần đến phần lớn hậu cần nữa và việc kiểm soát cũng không nhất thiết phải được thực hiện như là một hiện tượng xảy ra cục bộ tại chỗ (ít ra là đối với Hoa Kỳ).

Điều khiển học không gian được người ta khẳng định phần lớn vẫn là những gì thuộc về tương lai. Nhưng nếu nhìn nhận theo một định nghĩa rộng, thì giờ đây nó đã có thể khiến các công ty đa quốc gia điều hành công việc gần thời gian thực; khiến việc chỉ huy và kiểm soát được mở rộng vượt qua các đại dương; khiến các thị trường quốc tế được hình thành; khiến phương tiện xuyên quốc gia (như CNN) được ra đời, đi đôi với việc trao đổi thông tin khoa học và công nghệ được tiến hành trên toàn cầu, thông qua Internet. Mặc dù vậy, những công dụng ấy nếu đem so với ngày mai, thì sẽ chẳng thấm gì. 20 năm sắp tới, phương tiện điện thoại của thế giới thứ 3 theo quy hoạch, sẽ tăng với số lượng khổng lồ. Cáp quang đang được đặt với nhịp độ nhanh qua đất liền và dưới đại dương. Những ứng dụng vi tính có thể được sử dụng liên mạng hiện thời thì vẫn đang còn ở thời kỳ non trẻ. Trên thực tế qua 5 năm nữa, hiệu lực của kỹ thuật điện tử sẽ được phát huy gấp thêm 10 lần nữa và qua 10 năm tiếp theo sau nữa sẽ được phát huy gấp thêm 100 lần. Điều khiển học không gian của ngày mai với sự phổ cập rộng lớn như thế đương nhiên sẽ trở thành một lĩnh vực được người ta quan tâm thích đáng.

Những người giữ ý kiến cho rằng điều khiển học không gian sẽ xóa bỏ địa chính trị thường quả quyết là điều khiển học không gian (cũng như hàng không vũ trụ) tạo ra những lợi ích và thể chế vượt ra khỏi ranh giới quốc gia. Các thể chế cũng như lợi ích đó đều làm suy yếu năng lực của một quốc gia trong việc huy động tài nguyên vì những lý do dân tộc chủ nghĩa, song đồng thời nó cũng tạo ra những mối quan hệ quý giá mà một khi chiến tranh xảy ra thì những quan hệ đó bị phá hủy. Cái giá của chiến tranh như vậy đã tăng và nguy cơ chiến tranh có thể xảy ra cũng sẽ giảm.

Lập luận ấy tuy cũng có giá trị trong một chừng mực nào đó, nhưng lại thường gây nên những tranh cãi không đi đến đâu cả. Chẳng hạn người ta nêu lên rằng 50 năm qua các nước giàu có trên thế giới không đe dọa lẫn nhau. Phải chăng đó là vì họ đã vượt lên trên vũ lực, hoặc họ đã liên kết lại vì phải đối mặt với một kẻ thù lớn hơn (cũng với cách giải thích theo đường mòn ấy họ cho rằng kể từ khi bức tường Berlin sụp đổ người ta đã không thấy xảy ra chuyện các nước cắt quan hệ bang giao). Về điểm này người ta còn đưa ra một lập luận khác: điều khiển học không gian có xu hướng xóa bỏ địa chính trị bằng cách tác động ảnh hưởng đối với an ninh quân sự, chứ không phải với cách tác động (hoặc tối thiểu là cộng thêm vào) đối với chính trị quốc tế.

Một lập luận như vậy có thể tỏ ra là nghịch lý, vì đó là lý lẽ sáo mòn cơ bản của học thuyết quốc gia – dân tộc cho rằng thương mại thúc đẩy hợp tác quốc tế. Do đó, người ta đưa ra giả thiết: giới đại diện thương mại có xu hướng toàn cầu, còn giới quân sự có xu hướng địa phương – và bất kỳ những gì khiến chủ nghĩa toàn cầu giảm được phí tổn cũng là tạo thuận lợi cho thương mại. Như vậy nếu điều khiển học không gian không thông qua thương mại để xóa bỏ địa chính trị, thì vì sao nó lại thông qua an ninh để làm việc đó?

Lập luận trên xuất phát từ cái được gọi là cuộc cách mạng quân sự, khai thác ở đó những phương tiện mới của quyền lực quốc gia có khả năng xóa bỏ địa lý và đạt tới đỉnh cao là những phương tiện thực hiện việc dàn xếp an ninh quốc tế có xu hướng xóa đi những hoạch định địa lý cổ điển. Nó dựa trên ba điều quan sát cơ bản dưới đây:

Khí tài hiện đại, nhất là khí tài điều khiển chính xác (PGMs) đã gia tăng tầm quan trọng tương đối của thông tin chiến thuật trong xung đột. Trong chiến tranh thế giới II người ta cần tới 2500 quả bom để phá hủy một mục tiêu. Phá hủy một mục tiêu ở Viêt Nam nhờ có hệ thống ngắm chính xác hơn nên người ta cần khoảng 50 quả bom. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh, để làm việc này chỉ cần tới một quả bom điều khiển bằng laser. Những “tín đồ” của chiến tranh thông tin loan báo rằng 20 năm nữa, kể từ bây giờ, muốn đạt kết quả mong muốn, người ta có thể biết một cách chính xác chỉ cần phá hủy một mục tiêu nào trong số 50 mục tiêu được đặt ra.

Bằng cách tách thông tin ra khỏi vũ lực, người ta có thể không cần đến những trang bị hậu cần thông thường mà vẫn có thể tác động ảnh hưởng tới các cuộc xung đột ở xa và do đó cũng không còn bị hạn chế bởi địa lý trong chiến tranh.

Bằng việc tổ hợp các “dòng bits” từ các nguồn toàn cầu – của cả chính phủ và tư nhân – các liên mạng thông dụng có thể giúp các quốc gia thực hiện được việc đề phòng đối với các ý đồ của các nước láng giềng.

Và khi thời gian chín muồi, điều khiển học không gian có thể trở thành môi trường, tại đây thông tin về an ninh được làm ra và đem bán; trở thành nơi hội tụ các “dòng bits” và tiến hành việc điều tiết sản xuất và tiêu thụ các thông tin, chẳng khác gì các thị trường kinh tế điện tử vẫn điều tiết sản xuất và tiêu dùng các mặt hàng và dịch vụ vậy.

(còn tiếp) 

Người dịch: Nguyễn Đại

Nguồn: Martin Libicki – The Emerging Primacy of Information (A debate on Geo-politics). Orbis, Spring 1996, Volume. 40, No 2, pp261 – 276.

TĐB 97 – 13 & 14

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s