Vận dụng biện chứng pháp – Phần VI


III/ Khảo cứu các phạm trù triết học Ābhidharmika

Sự phê phán đầy sắc bén của Trung quán tông đối với quan điểm Dạng thức luận của hệ thống triết học Ābhidharmika tập trung vào việc khảo cứu các phạm trù triết học của học phái này như: uẩn (skandha), giới (dhātu) và xứ (āyatana) trong những khía cạnh siêu hình học và đức lý học. Khái niệm phổ quát về sự tồn tại của hiện tượng giới và các pháp hữu vi (samskŗta) là chủ đề được phân tích thấu triệt trong cả hai luận điểm Trung luận kệ tụng (Mādhyamika Kārikā) và Tứ bách luận (Catuh Śataka).

Các pháp là những tồn tại tối hậu và được sắp xếp, phân loại theo nhiều cách khác nhau trong những luận điển Ābhidharmika. Sự phân loại uẩn-giới-xứ là điểm nổi bật nhất trong các tông phái Phật giáo. Không còn nghi ngờ gì nữa, việc phân tích tự ngã thành các trạng thái một cách cực kỳ tường tận đến mức không còn chút một khái niệm nào về linh hồn hay bản thể, đã được khởi xướng ngay từ thời kỳ Phật giáo nguyên thủy, và được gán cho đức Phật. Tham chiếu đến uẩn (skandha), xứ (āyatana) và giới (dhātu) là một nét phổ quát và thường xuyên trong năm bộ kinh Nikāya và kinh văn Pāli, đến mức ta không thể nghi ngờ chúng là phần được thêm thắt về sau được. Sự tham chiếu này luôn luôn được dùng để chứng minh rằng uẩn-giới-xứ không phải là tự ngã, mà cũng không hề có một tự ngã nào tách lìa khỏi chúng, và tham chấp vào tự ngã là biểu hiện của vô minh. Phân loại tồn tại thành uẩn-giới-xứ có thể được xem là mang tính chủ quan, bởi vì chủ yếu chỉ quan tâm đến kinh nghiệm khả tri, sinh mạng và các thành tố của nó. Một sự phân loại khách quan tương ứng cho các mô thức tư tưởng đã được hình thành trong các tông phái và hệ phái. Sthaviravāda và Sarvāstivāda đã thực hiện danh mục liệt kê các mô thức tư tưởng này, và tiến trình này được tiếp tục qua nhiều thế kỷ với con số danh mục liệt kê thay đổi qua từng thời đại. Abhidharma-Kośa của Vasubandhu trình bày hình thức cuối cùng của giáo lý Sarvāstivāda, trong khi luận điển Visuddhimagga (Giải thoát đạo luận) của vị luận sư đồng thời với ông là Buddhagosa được xem là hình thức cuối cùng của giáo lý Theravāda.

Những điểm chi tiết của hệ thống triết học Ābhidharmika hiện nay chỉ còn giá trị lịch sử. Nhưng nó đã là và vẫn còn là một trong những nỗ lực bao trùm nhất và mang tính hệ thống nhất trong việc giải thích sự vật từ quan điểm Dạng thức luận bằng sự phủ nhận thực thể trong sự vật một cách có ý thức. Việc phê phán hệ thống Ābhidharmika cho thấy tính bất ổn của mọi quan điểm Dạng thức luận.

1/ Thập nhị xứ (Āyatana)

Sự phân loại lục nhập đã bị phê phán trong chương III của Trung kệ luận (phẩm Quán lục tình). Xứ là các giác quan, có chức năng như cái cửa (āya, dvāra) để giao tiếp với các khách trần tương ứng của thế giới bên ngoài Có sáu căn (lục căn) gồm: nhãn (mắt), nhĩ (tai), tỵ (mũi), thiệt (lưỡi), thân (cơ thể) ở bên ngoài và ý ở bên trong. Sáu căn giao tiếp tương ứng với sáu trần cảnh: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sự hòa hợp giữa lục căn và lục trần làm phát sinh nhận thức. Công thức chung là như vầy: mắt (cakşuh) thấy sắc (rūpa), tai nghe âm thanh… Chức năng của lục căn có thể được xem là:

1/ chủ thể hoạt động [active agent], tức là năng kiến, hay chủ thể nhìn (paśyatȋti darśanam cakşuh).

2/ hoặc là khí cụ để nhìn – tức là cái mà nhờ đó sự vật được nhìn thấy (paśyaty aneneti karaņasādhanam)

Cả hai cách lý giải đều muốn cung cấp một cách lý giải hợp lý về quá trình nhận thức mà không cần phải giả định một thể nền bất biến (tự ngã – ātman) nằm bên dưới các trạng thái tâm lý.

Mắt không thể tự thấy nó, mà nó đã không tự nhận biết mình thì làm sao nhận biết được sự vật khác? Nên hiểu “tự nhìn thấy mình” theo nghĩa là một thực thể tự chia đôi thành chủ thể thấy hay năng kiến, và đối tượng được thấy hay sở kiến. Ta có thể lý giải rằng con mắt không cần phải tự nhìn thấy nó, cũng như lửa đốt cháy củi nhưng mà không tự đốt được mình. Nhưng cách lý giải này lại vấp phải những vấn nạn như những vấn nạn liên quan đến vấn đề chuyển động. Cái được thấy không thể là cái đã được thấy hay cái chưa được thấy, mà cũng không có “cái đang được thấy”. Tương tự như vậy, có thể đặt câu hỏi về chủ thể thấy: ai nhìn? Đó không phải là chủ-thể-thấy [seer] (bởi vì như vậy có nghãi là có hai động tác…), cũng không phải là phi-chủ-thể-thấy [no-seer], mà cũng chẳng có luận chấp thứ ba. Bởi vì không có động tác gọi là thấy, thì làm sao có được chủ-thể-thấy, vậy thì phi-chủ-thể-thấy lại càng không thể thấy.

Xem nhãn căn và các căn khác là những khí cụ, thì điều đó cũng chẳng cải thiện được gì cho những vấn đề nan giải. Mọi khí cụ đều bao hàm một tác nhân hay chủ thể (kartā) sử dụng khí cụ, dùng mắt để thấy, dùng tai để nghe… Nhưng chủ thể này lại không ổn định, bởi vì anh ta bị cho là không thể thấy được chính bản thân mình với khí cụ là con mắt của anh ta; do anh ta đã không nhận thức được bản thân mình thì làm sao nhận thức được sự vật khác, và không thể cho rằng anh ta nhận thức được sự vật khác mà không nhận thức được bản thân mình là do những nhận xét mà ta đã đề xuất ở trên. Còn có thêm một vấn nạn nữa đó là chủ thể thấy (draştā) là đồng nhất hay dị biệt với động tác thấy? Không có chủ thể (kartā) thì không có sự thấy hay sự vật được thấy. Những nhận xét này áp dụng cho nhãn căn, hay các căn khác cũng có giá trị như nhau.

Với lý luận về các thành tố ([theory of elements] dharmamātram), chủ trương vạn pháp phân tán rời rạc, chẳng ngừng trụ trong mỗi sát na, sinh diệt vô thường, hoàn toàn không có thực thể, tông phái Vaibhāşika hẳn sẽ hoan nghênh luận điểm phê phán chủ thể và hành động tác nói trên của Trung quán tông, vì nó rất phù hợp với quan điểm của mình. Theo cách nhìn này thì nhận thức không phải là sự kiện một chủ thể tri giác thấy một đối tượng, bởi vì không hề có hành động thấy (nirvyāpara dharmamātram), mà đó là sự sinh khởi đột ngột của một pháp thể mà ta quen gọi là “nhãn căn”, với pháp thể khác là dữ liệu cảm giác [sense-datum] hay sắc trần, rồi được tiếp nối bởi một pháp thể khác là nhãn thức (cakşurvijnānam). Song Trung quán tông lại hùng hồn tuyên bố không hề có hành động nào trên sự vật, không hề có sự đột khởi của các pháp thể rời rạc đó, mà chúng đều hoàn toàn vô năng và không có thực, như hoa đốm giữa hư không [kriyā-raitatvāt khapuşpavat].

Nếu chúng ta tự giới hạn cái nhìn trong thế giới hiện tượng, nếu chúng ta chỉ muốn mô tả những điều ghi nhận được bằng kinh nghiệm trong cuộc sống hằng ngày thì chúng ta buộc phải chấp nhận không chỉ các trạng thái hoặc các pháp thể, mà còn phải chấp nhận các hành động và chủ thể. Nhìn từ lập trường cứu cánh của chân lý thì các pháp thể cũng không thực hữu như hành động, đó là những điều mà Phật giáo nguyên thủy đã bác bỏ một cách đúng đắn. Quan điểm chính xác của Trung quán tông là: bản thân các mô thức tư duy đều không thể giải thích hiện tượng một cách hoàn chỉnh được, bởi vì chúng phải chấp nhận khái niệm bản thể. Cả hành động lẫn chủ thể chỉ có giá trị trong thế giới thường nghiệm, hay với các pháp hữu vi (samskŗta) mà thôi.

2/ Ngũ uẩn (shandha)

Nếu sự phân loại 12 xứ dựa trên nền tảng của trần cảnh và các căn, do đó mang đặc tính nhận thức luận là chính; thì sự phân loại của các uẩn lại dựa trên sự diễn sinh [derivation] của sự vật. Vai trò chủ đạo trong cách phân loại thứ nhất là thái độ nhận thức, còn trong cách sau là quan hệ nhân quả. Cách phân loại ngũ uẩn mang tính khách quan và bản thể luận. Học thuyết Ābhidharmika quan niệm sự tồn tại có thể được chia thành năm nhóm là: sắc (rūpa), họ (vedanā), tưởng (samjňa), hành (samskāra), thức (vijňānā). Nhóm thứ nhất bao gồm yếu tố vật chất, bốn nhóm còn lại bao gồm các hiện tượng tâm lý và tinh thần. Cũng giống như trong cách phân lại các xứ (āyatana), ý đồ trong sự phân loại ngũ uẩn là mong muốn giải thích mọi hiện tượng mà không cần đến một bản thể (là sinh mạng hay linh hồn), đó là hòn đá tảng cho tất cả các tông phái Phật giáo.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: T.R.V. Murti – Tánh không, cốt tủy triết học của Phật giáo  NXB HĐ 2013.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s