Trung Quốc hiện thực hóa bành trướng Biển Đông và giải pháp của Việt Nam


Trung Quốc hiện thực hóa mưu đồ bành trướng Biển Đông

Theo đài RFA, trong những năm gần đây, Trung Quốc liên tiếp có những động thái gây căng thẳng trên Biển Đông, chèn ép các quốc gia khác trong khu vực, như xây dựng, mở rộng và quân sự hóa các đảo, đá mà nước này xâm chiếm được tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; thường xuyên tổ chức tập trận bắn đạn thật… Trong năm 2018, Trung Quốc càng tỏ rõ mưu đồ bành trướng trên Biển Đông qua các phát biểu chính thức.

Theo Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Hà Lan, tuyên bố hành động xâm chiếm của Trung Quốc đối với các đảo trên Biển Đông của Việt Nam đã diễn ra từ lâu, ngay trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cho đến bây giờ. Ông nói: “Đây không phải là sự ngẫu nhiên. Quá trình này nằm trong chính sách được thiết kế, được tính toán khá kỹ lưỡng. Người ta thực hiện lúc nào, hành động lúc nào, cái đó là do những tính toán chiến thuật, chiến lược. Cho nên, không phải đến bây giờ chúng ta mới biết Trung Quốc có một chiến lược hẳn hoi để chei61m Biển Đông, mà chúng ta đã biết từ lâu, thậm chí từ trong chiến tranh”.

Đáp lại những động thái đó, Tiến sĩ Thắng cho biết, tùy vào hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh quốc tế và khu vực, nhất là quan hệ song phương giữa hai quốc gia cộng sản, mà chính quyền Việt Nam có phản ứng công khai hoặc đấu tranh thầm kín.

Ông Thắng đánh giá, sự kiện Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương – 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam hồi tháng 4/2014 là một mốc quan trọng trong việc Trung Quốc công khai trước thế giới về chính sách bành trướng trên Biển Đông. Ông nêu rõ: “Có thể nói đây là phép thử của họ. Họ vừa thử phản ứng của Việt Nam – ở đây có hai loại phản ứng: của nhà nước và của người dân. Thứ hai  là họ thách thức dư luận trong khu vực, trong đó có dư luận của thế giới, của Mỹ và các nước khác”.

Mặt khác, việc kéo giàn khoan Hải Dương – 981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam còn đạt nhiều mục đích khác, trong đó có việc “giương Đông, kích Tây”, đánh lạc hướng truyền thông và sự chú ý của cộng đồng quốc tế, nhằm xây dựng, mở rộng, quân sự hóa các đảo, đá tại Trường Sa ngay trong mùa Hè năm 2014.

Ngoài phương diện quân sự, ngoại giao, Trung Quốc còn có nhiều biện pháp khác để khẳng định chủ quyền của họ trong “đường 9 đoạn” phi pháp, trong đó có cả nghề cá. Từ trước đến nay, chúng ta vẫn chỉ nghe và thấy những đoàn tầu cá của Trung Quốc tràn xuống Biển Đông, thì nay, GS-TS Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội nuôi biển Việt Nam cảnh báo một mối nguy mới.

Năm 2017, Nhà máy đóng tàu Thanh Đảo (Trung Quốc) đóng thuê cho Na Uy một lồng nuôi cá đại dương có tên “Ocean Farm No.1” với đường kính 110m, cao 67m, nặng 7.700 tấn, bằng thép. Từ đó, Trung Quốc lấy được công nghệ và đầu tư 1 tỷ USD để sản xuất đại trà các lồng nuôi tương tự, với đường kính lớn hơn để đưa ra các vùng biển xa có tranh chấp, trong đó có Biển Đông. Ông Dũng nói: “Ta tưởng tượng với 1 tỷ USD, nếu họ đóng hàng chục cái lồng nuôi lớn như thế thả vào Vịnh Bắc Bộ và vùng nước đang tranh chấp, thì an ninh của chúng ta sẽ như thế nào?”

Trong khi đó, khi thăm Quân khu phía Nam và Hạm đội Nam Hải trong tháng 10 vừa qua, ông Tập Cận Bình đã tuyên bố quân đội nước này sẵn sàng chuẩn bị cho chiến tranh, khiến các nước trong khu vực phải nâng cao cảnh giác.

Giải pháp bảo vệ chủ quyền trên biển của Việt Nam

Trong mọi cuộc tiếp xúc và tuyên bố, Việt Nam và các bên khác đều nêu việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, không sử dụng vũ lực, và dựa trên luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Tuy nhiên, sau hơn 2 năm Tòa trọng tài ra phán quyết bác bỏ “đường 9 đoạn” yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc, thì phán quyết này vẫn chưa có ý nghĩa và hiệu lực trên thực tế, đồng thời dần trôi vào quên lãng.

Trung Quốc, một trong 5 thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, đã không tham gia quá trình tố tụng tại Tòa trọng tài từ khi Philippines khởi kiện, và sau khi có phán quyết, nước này đã phản ứng quyết liệt, tuyên bố bác bỏ và không thực thi. Trong khi đó, các nước khác (bao gồm cả Việt Nam) phản ứng thận trọng, và bản thân Philippines còn làm nhẹ đi tác động của phán quyết trong thực tế. Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng cho rằng, đây là một hiện tượng tiêu cực trong quan hệ quốc tế và một tiền lệ xấu trong công pháp quốc tế. Ông Thắng nói: “Luật quốc tế bao giờ cũng vậy, chỉ là quy ước, quy phạm, phải được sự thống nhất của các bên. Còn tính ràng buộc, tính pháp lý áp đặt của nó phải trên cơ sở tương quan lực lượng, mà xét tương quan lực lượng trong khu vực hiện nay thì Trung Quốc đang chiếm ghế trên so với các bên tranh chấp. Cho nên, nếu nói là tự nguyện thì không bao giờ có chuyện Trung Quốc sẽ thực thi phán quyết đó, trừ khi có những sức ép mạnh từ những lực lượng mà một là trên hoặc ngang bằng Trung Quốc, hai là từ những tập hợp lực lượng có chiến lược hẳn hoi để ép Trung Quốc theo hướng đó”.

Vì cán cân chênh lệch như vậy, trong nhiều năm nay, Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng đã suy nghĩ và đưa ra một biện pháp giải quyết tổng thể, một mô thức có tên là “P&DOWN” (trong đó P là Partnership – đối tác, D là Democratization – dân chủ hóa), nhằm nâng cao nội lực các nước nhỏ trong khu vực và tạo một liên kết (N – networking) mạnh giữa các nước nhỏ này với các nước đối tác lớn như Mỹ, Australia, Ấn Độ, Nhật Bản, EU để đối trọng với một Trung Quốc ngày càng hung hăng. Ông Thắng nói: “Nếu như tiềm lực, sức mạnh bên trong của mỗi nước, mỗi tổ chức không có thì không bao giờ ép được Trung Quốc. Tóm lại, hai thứ rất quan trọng là xây dựng quan hệ đối tác và thúc đẩy dân chủ hóa quan hệ quốc tế, cộng với việc tổ chức một cuộc chiến trên hai khía cạnh pháp lý và truyền thông phải làm thật mạnh. Về pháp lý thì đi đâu, diễn đàn nào anh cũng phải nói rõ: anh là nước bị hại”.

Đồng quan điểm với Tiến sĩ Đinh Hoàng Thắng trong việc phải hợp tác quốc tế trong vấn đề giải quyết tranh chấp Biển Đông và bảo vệ lợi ích quốc gia của Việt Nam, GS-TS Nguyễn Hữu Dũng cho rằng, Việt Nam nên phát triển kinh tế biển, trong đó có nuôi biển công nghiệp, dầu khí và đóng tàu với sự hợp tác đầu tư của nước ngoài. Ông Dũng nói: “Tôi nghĩ là có rất nhiều quốc gia mong muốn được hợp tác với chúng ta để khai thác Biển Đông, vùng biển nhiệt đới rất giàu tiềm năng. Nếu có sự hiện diện của các quốc gia khác trên vùng biển của chúng ta, trong các hoạt động rất hòa bình là nuôi biển, thì đó là một sự bảo đảm rất tốt cho chủ quyền của chúng ta”.

Biển Đông là một vùng biển quốc tế, do đó không thể giải quyết song phương, mà phải đa phương hóa, quốc tế hóa. Đây là một thực tế khách quan mà Trung Quốc không thể tự ý thay đổi. Vì vậy, giải quyết vấn đề Biển Đông phải có sự tham gia của các cường quốc với vai trò trung tâm của ASEAN, mà Việt Nam là một thành viên chủ chốt, một bên tranh chấp.

Nguồn: TKNB – 11/12/2018

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s