Cổng nhà – Phần VI


Trong lịch sử chiến tranh thì cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất có một đặc điểm đặc biệt. Nó là cuộc chiến mà không ai tìm kiếm nhưng khi nhìn lại thì thấy nó là không thể tránh khỏi. Năm 1914, không bên tham chiến nào có vẻ muốn chiến tranh. Nhưng lý do dẫn đến chiến tranh thì nhiều và lý do nào cũng nghiêm trọng – châu Âu bị chia rẽ thành hai phe đối lập, chủ nghĩa dân tộc lên cao, chạy đua vũ trang, và sức ép từ trong nước – nên khi nhìn về quá khứ, chúng ta thấy việc chiến tranh nổ ra không hề có gì khó hiểu mà thực ra là không thể tránh khỏi. Nguy cơ xảy ra cuộc chiến tranh thương mại giữa Trung Quốc và bộ ba phương Tây cũng vậy. Cả Trung Quốc lẫn đối tác thương mại của họ đều không muốn, vì chiến tranh thương mại sẽ gây thiệt hại cho cả hai. Kinh nghiệm về chủ nghĩa bảo hộ quá khích vào những năm 1930 đã cho thấy chiến tranh thương mại không đem lại thắng lợi cho bên nào. Nhưng sự căng thẳng có thể dẫn đến xung đột vẫn đang tồn tại rõ ràng, nguy hiểm, và sẽ không biến mất trong ngày một ngày hai. Những lời buộc tội đanh thép và chiến lược trả đũa những rào cản thuế quan nho nhỏ đang góp phần tạo ra một cuộc chiến tranh lạnh kinh tế ở mức thấp, mà đặc trưng của chiến tranh lạnh là nó có khả năng trở thành chiến tranh nóng.

Tuy nhiên, nguy cơ lớn nhất đối với hệ thống thương mại mở trong những năm tới có thể lại không xuất phát từ Trung Quốc và năng lực chế tạo của họ mà lại từ một thành viên mới cũng rất lớn của nền kinh tế toàn cầu – Ấn Độ. Trong lĩnh vực chế tạo, Ấn Độ bị đánh giá thấp hơn so với những gì họ đạt được. Nhưng đến thế kỷ 21, họ đã trở thành một quốc gia xuất khẩu chính, những gì họ xuất khẩu có tiềm năng tạo ra tổn thất kinh tế còn nặng nề hơn các sản phẩm đồ chơi, dệt may hay thiết bị viễn thông của Trung Quốc. Trung Quốc giống như cơn đau răng khó chịu mà hệ thống thương mại quốc tế mắc phải: nó gây đau đớn triền miên, sẽ nguy hiểm nếu răng bị sâu, nhưng nếu không thì nó cũng chẳng gây ran nguy cơ gì ghê gớm cho sức khỏe nói chung. Ấn Độ thì ngược lại, giống như khối u ít được chú ý, phát triển chậm chạp, nhưng có thể chính là bệnh ung thư.

Mọi hoạt động kinh tế đều thuộc một trong ba lĩnh vực: nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Việc làm trong ba lĩnh vực này lần lượt thuộc về nông dân trên đồng ruộng, công nhân trong nhà máy và nhân viên trong văn phòng. Trong giai đoạn đầu của cuộc Cách mạng Công nghiệp, với những tiến bộ trong ngành vận tải nhờ phát minh ra động cơ hơi nước và đường sắt, lần đầu tiên con người có thể mua bán sản phẩm nông nghiệp và công nghiệp một cách thường xuyên và trên quy mô lớn. Tức là người nông dân và công nhân đã trở nên nhạy cảm với những tổn thất mà thương mại gây ra. Công nhân cổ trắng làm việc trong lĩnh vực dịch vụ thì vẫn được an toàn, cho đế khi nổ ra cuộc cách mạng công nghệ thông tin vào cuối thế kỷ 20.

Cuộc cách mạng số khiến ngành dịch vụ – bao gồm từ công việc giấy tờ hàng ngày cho đến những nghề mang tính chuyên môn cao như luật sư, kế toán, kiến trúc sư, thầy thuốc – có thể chỉ diễn ra ở một địa điểm và được cung cấp đến nơi khác ở quy mô lớn. Cũng giống như thương mại đối với nông sản và sản phẩm công nghiệp, trước kia chỉ diễn ra không thường xuyên và ở quy mô nhỏ, nhưng giờ con người có thể thực hiện nó liên tục, với số lượng lớn, và rất nhanh. Là một thứ mới xuất hiện nên cung cấp dịch vụ từ xa cũng cần có một cái tên: “thuê nước ngoài” – chuyển công việc ra nước ngoài để thuê nước ngoài làm. (Một thuật ngữ tương tự là “thuê ngoài”, là khi một công ty thuê một công ty khác làm việc, và công ty được thuê không nhất thiết là ở nước ngoài).

Rất nhiều dịch vụ nước ngoài cung cấp là từ Ấn Độ. Dịch vụ tổng đài chăm sóc khách hàng của họ, với nhiệm vụ xử lý yêu cầu của khách hàng cách đó hàng nghìn dặm, từ vấn đề trong hóa đơn thẻ tín dụng đến chuyện máy tính bị hỏng; đã trở thành biểu tượng mới của nền kinh tế toàn cầu. Xã hội và nền kinh tế Ấn Độ có ba đặc điểm mà khi kết hợp lại, chúng giúp Ấn Độ trở thành trung tâm cung cấp dịch vụ “thuê nước ngoài”; khả năng sử dụng tiếng Anh tốt, lực lượng lao động nòng cốt có đủ trình độ để làm dịch vụ (họ chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong dân số Ấn Độ, nhưng tính về con số thì lại đông vì dân số Ấn Độ rất lớn), và lương rất thấp khi so với nước khác, kể cả lương trả cho người có trình độ, Logic của thuê nước ngoài sản xuất không có gì lạ. Nó phù hợp với mô thức thương mại thông thường, trong đó việc làm dịch chuyển đến nơi mà nó được thực hiện một cách hiệu quả nhất xét từ góc độ kinh tế – và lương là một yếu tố quan trọng thể hiện tính hiệu quả. Nó đúng với mọi việc làm, từ trồng lúa mì, lắp ráp điện thoại di động đến đọc kết quả chụp X quang. Ấn Độ có lợi thế trong việc cung cấp những dịch vụ có thể mua bán được nên họ xuất khẩu dịch vụ. Và đây là chương mới trong lịch sử lâu dài vẫn đang tiếp diễn của sự phá hủy mang tính sáng tạo. Nhưng xét từ góc nhìn khác, thuê nước ngoài sản xuất chính là một sự thay đổi mang tính cách mạng: lần đầu tiên trong lịch sử, dịch vụ, giống như ngũ cốc hay điện thoại di động, cũng có thể được mua bán thường xuyên, với số lượng lớn, vượt qua chặng đường rất dài.

Diễn biến mới này có thể tạo ra hậu quả rất lớn vì rất, rất nhiều người ở bộ ba phương Tây làm việc trong lĩnh vực dịch vụ, nơi chiếm đến hơn 70% lực lượng lao động, đông hơn nông nghiệp và công nghiệp. Không phải ngành dịch vụ nào cũng bị ảnh hưởng bởi “thuê nước ngoài”. Một số dịch vụ phải được phục vụ tận tay khách hàng, ví dụ không thể cắt tóc từ xa. Nhưng khi công nghệ thông tin phát triển, và thực tế đã là như vậy, sẽ ngày càng có nhiều dịch vụ sẽ không phải giao tận tay khách hàng, tức là có thể mua bán được. Theo ước tính của nhà kinh tế học nổi tiếng, cựu phó chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Alan Blinder, có thể thuê nước ngoài làm từ 30 đến 40 triệu việc làm trong ngành dịch vụ của Mỹ.

Vì vậy, thái độ phản đối dịch vụ xuyên biên giới trong chính trị sẽ khá gay gắt. Phong trào ngăn cản mua bán dịch vụ sẽ mạnh mẽ chính là do quan điểm chính trị đối với thương mại, khi chỉ có một tỷ lệ nhỏ việc làm trong nước gặp phải rủi ro. Nếu thiểu số người gặp phải rủi ro mất việc làm đông hơn, hoặc thậm chí rủi ro ấy đến với đa số, với tất cả mọi công nhân thì phong trào phản đối còn mạnh đến mức nào?

Hơn nữa, rất nhiều công nhân cổ trắng có nguy cơ mất việc còn là những người có trình độ học vấn cao hơn nhiều, giàu có hơn nhiều, và có vị thế chính trị phức tạp hơn nhiều so với những nông dân hay công nhân lắp ráp từng bị thương mại gây tổn hại trước đây. Nên ảnh hưởng họ gây ra đối với chính sách thương mại theo hướng đẩy mạnh bảo hộ sẽ lớn hơn nhiều so với ảnh hưởng của phe bị tổn thất bởi thương mại hồi thế kỷ 20. Rất nhiều người thuộc về các hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức giúp họ tạo ra lực đẩy mạnh mẽ trong nỗ lực đóng cửa biên giới, cái mà nông dân và công nhân nhà máy không hề có. Torng lịch sử, một trong những đặc quyền đặc trưng của hiệp hội nghề nghiệp có quyền quyết định ai đủ trình độ đảm nhận công việc. Hiệp hội nghề nghệ có khả năng (và thực sự) đã loại trừ được nhân lực nước ngoài đơn giản bằng cách tuyên bố rằng họ không đủ trình độ.

Tuy nhiên, những người phản đối “thuê nước ngoài” sẽ phải đối mặt với một rào cản rõ ràng về mặt “vận chuyển”. Ngăn chặn dịch vụ xuyên biên giới bằng đường điện tử sẽ khó hơn nhiều so với việc chấm dứt cung cấp hoặc đánh thuế nhập cảng đối với các sản phẩm như lúa mì hoặc điện thoại di động. Dịch vụ được cung cấp qua đường điện tử có thể đi phía trên, ngầm ở dưới, chạy vòng quanh hoặc xuyên thẳng qua cánh cổng vào một quốc gia có chủ quyền.

Một lý do khác khiến chúng ta nghĩ rằng thái độ phản đối “thuê nước ngoài” sẽ trở nên gay gắt là: vào thế kỷ 19 và 20, những người bị thất nghiệp bởi thương mại phát triển vẫn có thể chuyển từ làm đồng sang làm công nhân, chuyển từ công nhân sang làm nhân viên văn phòng. Công nhân cổ trắng ở thế kỷ 21 thì ngược lại, nền kinh tế không có ngành nghề gì mới cho họ thay đổi. Hoàn toàn không. Khi cơn lũ cạnh tranh quốc tế dâng cao, các nạn nhân không còn hu đất nào cao hơn để trú ẩn.

Từ khi bắt đầu phát triển vào năm 1846, nền kinh tế quốc tế đã trải qua hai làn sóng phản đối thương mại rộng lớn, mạnh mẽ và có tác động lớn về mặt chính trị. Lần đầu tiên là từ những năm 1870 đến cuối thế kỷ 19, phong trào phản đối thương mại xuất hiện vào giai đoạn đầu của tự do thương mại. Cùng với Mỹ, hầu hết các nước châu Âu – trong đó Anh là trường hợp nổi bật – đã thiết lập hàng rào đối với hàng nhập khẩu. (Chi phí vận chuyển giảm nhanh đến mức tổng giá trị thương mại không hề giảm). Phong trào xuất hiện lần thứ hai là vào cuộc Đại Khủng hoảng. Các nước ngăn chặn nhập khẩu hàng hóa với hy vọng duy trì được việc làm trong nước. Cuộc cách mạng số đang diễn ra – mà kết quả là chúng ta có thể thuê nước ngoài làm nhiều loại dịch vụ hơn bao giờ hết – có thể tạo ra làn sóng phản đối thứ ba mà ít nhất ở bộ ba phương Tây, nó sẽ tạo ra lực đẩy đóng sập cánh cửa thương mại và có sức mạnh chính trị rất lớn.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Michael Mandelbaum – Đường tới thịnh vượng toàn cầu – NXB Trẻ 2016.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s