Giá trị xã hội trong xã hội nông nghiệp – Phần cuối


II/ Những điều cần khắc phục trong tâm lý tiểu nông

+ Biểu hiện rõ nhất của tư tưởng tiểu nông là thiếu khoa học, chủ quan, duy ý chí, phiến diện, giản đơn, nặng về cảm tính và cảm tình.

+ Tác phong nông nghiệp biểu hiện khá rõ là tính tùy tiện (ví dụ, giờ giấc ít khi chính xác, tính kế hoạch kém, cẩu thả).

+ Hết sức bảo thủ, trì trệ, không năng động, thiếu sáng tạo, không nhạy cảm với cái mới, kém tính thích ứng.

+ Cục bộ, địa phương chủ nghĩa, gia đình chủ nghĩa, đặt họ hàng thân thích trên quyền lợi chung còn nặng nề.

Đến Đại hội IX (năm 2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn nhận định về “tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm…” là những rào cản trên đường xây dựng một xã hội mới. Theo đó, chương sách này muốn nêu lên vấn đề rằng: giá trị học, các nhà khoa học nói chung, nhất là khoa học xã hội, nhân văn, trong đó có tâm lý học và giáo dục học cần có trách nhiệm khắc phục những rào cản đó trong các giá trị của xã hội và con người Việt Nam. Được như vậy, xã hội chúng ta mới thực sự phát triển đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho mọi người, và thành công trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là người rất coi trọng vai trò của tâm lý học với việc xây dựng văn hóa dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: phải chống những cái gì trở ngại ta, phải chấm dứt những tệ nạn xấu xa do xã hội cũ để lại. Ở đây tập trung trích mấy điều cần khắc phục trong tâm lý tiểu nông, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra là tâm lý thủ cựu, rời rạc, tư hữu…, thiếu quyết tâm, thiếu đoàn kết, thiếu tư tưởng lâu dài…, chỉ thấy lợi trước mắt, không thấy lợi lâu dài…, chủ quan… đồng bào và cán bộ phải đánh lui tư tưởng bảo thủ… Xã hội cũ chính là xã hội tồn tại bằng kinh tế tiểu nông với thiết chế làng xã bị phong kiến thống trị và thực dân đô hộ, bên cạnh mặt mạnh trong giữ gìn bản sắc dân tộc, chiến thắng thiên tai, chiến thắng các kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần, giành độc lập dân tộc, đồng thời đã để lại nhiều nét tâm lý xã hội cản trở sự phát triển xã hội công nghiệp, hiện đại. Từ xa xưa, tổ tiên ông cha vẫn dạy dỗ nâng niu những điều tốt lành theo hướng chân, thiện, mỹ là ba giá trị phổ quát của loài người và răn đe ngăn ngừa những điều sai, ác, xấu.

Đó là nhiệm vụ của các nhà chính trị và các nhà văn hóa. Chẳng thế mà Nguyễn Văn Huyên từ những năm 40 của thế kỷ XX, khi xã hội nông nghiệp nước ta còn chìm đắm trong chế độ thực dân – phong kiến, đã lên án thói hư tật xấu của người Việt Nam. Bên cạnh những ưu điểm trong đời sống tinh thần của nhân dân ta, ông cũng đã chỉ ra những điều cần khắc phục với lời khuyên đề phòng xu hướng “khái quát hóa quá mức”. Người ta hay nhận xét, và chẳng phải không có lý khi nói rằng nhược điểm lớn nhất của người Việt Nam là lười biếng, hay ít nhất cũng dễ có khuynh hướng buông trôi. Nguyên nhân chủ yếu của “bệnh” này là phương thức sản xuất nông nghiệp, như tác giả nhận định: “sống ngày nào biết ngày ấy”. Tất nhiên, ông còn chỉ ra một phần là do một nền giáo dục truyền thống chưa bao giờ có phương pháp… Thành ra ở người Việt có sự lười biếng về trí óc. Nói chung người Việt có chất nghệ sĩ nhiều hơn chất khoa học. Từ sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra thời đại sáng sáng, trí tuệ Việt Nam có bước tiến nhảy vọt, như lịch sử hơn nửa thế kỷ qua của dân tộc đã thể hiện. Qua các học sinh, sinh viên ta sang học ở Singapore, ông Lý Quang Diệu, cố thủ tướng nước này đã nhận xét: Người Việt Nam rất thông minh và rất nghị lực. Nghị lực là một giá trị tạo ra sức mạnh tinh thần để vượt qua khó khăn, một yếu tố rất cần thiết để đi đến thành công. Thông minh phải đi liền với chăm chỉ và nghị lực mới có kết quả cao trong lịch sử giữ nước và dựng nước của dân tộc ta. Tính lười biếng giảm dần theo tiến độ công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Nhưng trong suy nghĩ cũng như trong hành động của người Việt còn cảm tính nhiều hơn duy lý, nói đơn giản, nhiều khi tư duy còn nửa vời, suy nghĩ sáng tạo còn thiếu nhiều.

Bước vào thế kỷ XXI, nhiều tác giả đã quan tâm tới vấn đề đạo đức xã hội, nhân cách con người. Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu tập thể do GS.TS. Ngô Đức Thịnh chủ biên nêu 13 yếu tố được xem là 13 thói hư tật xấu đã và đang xuất hiện (tuy không nêu rõ có phải từ kinh tế tiểu nông hay không), trong đó vẫn còn tính “lười biếng” cần cải tạo mạnh mẽ hơn, tuy nhiều tác giả, khẳng định tính cần cù là một nét rất đặc trưng của người Việt Nam qua bao đời. 13 tật xấu đó là:

Vụ lợi/ham tiền Tò mò/thọc mạch
Giả dối Chuộng ngoại
Tự ti Tham vặt
Thực dụng Cậy thần cậy thế
Vô kỷ luật Lười biếng
Thích hưởng thụ Thụ động/ít sáng tạo
Mê tín dị đoan

Chúng tôi đồng tình rằng đó là những tính xấu cần khắc phục, tuy nhiên, có thể nêu vài điều, ví dụ, đôi chữ, từ ngữ có khác nhau, nhưng cũng có chỗ nội hàm có thể gặp nhau. Ví dụ, “vô kỷ luật” và “tùy tiện” có nội dung gần nhau, tuy có khác về mức độ chất lượng; nên hiểu “thực dụng” như thế nào cho đúng và có thời gian tính, chứ không theo một định kiến (xem lịch sử tư tưởng ở Mỹ có thể thấy, triết lý thực dụng ra đời cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã phát huy tác dụng thúc đẩy tính tích cực lao động như thế nào suốt hơn một thế kỷ qua, đạt được những kết quả ngoạn mục cả thế giới phải khâm phục. “Thực dụng” trong tiếng Anh là “pragmatism”, “pragma” có nghĩa là “hành động”); “tò mò” và “thọc mạch” có lẽ không nên xếp cùng loại với nhau bởi có sự “tò mò” tích cực là tò mò khoa học, thích tìm hiểu, có “tò mò” xấu, còn “thọc mạch” là xoi mói, thích tìm cái xấu của người khác;… Tất nhiên, đây là vấn đề phức tạp, cần làm sáng tỏ dần, nhất là cùng với biến động thực tiễn.

Tác giả Hương Thủy khẳng định: “Người Việt có nhiều phẩm chất tốt đẹp, nhưng cũng có nhiều cái xấu, cái dở trong thời đại công nghiệp hóa, toàn cầu hóa…”, “do dân trí thấp”, “do trình độ văn hóa chung của xã hội và hiệu quả của hệ thống pháp luật”; nêu nhận xét của các em lưu học sinh Việt Nam về các hạn chế của người Việt, như thiếu tính cộng đồng, mạnh ai nấy sống, người ta hơn mình thì ghen tị, nhiều người giỏi nhưng tập thể thì lại không mạnh, rụt rè, thiếu tự tin, hay tự hào quá mức, theo cảm tính chủ quan nhiều hơn tư duy biện chứng – đều là thiếu khoa học. Ngoài ra còn những ý kiến nhận xét khác như nặng về tình hơn về lý với quan niệm: “Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình”; tính khôn vặt; có người lại nói cảnh tượng nói to, ồn ào hoặc “gì cũng cười”; tính “liều”, “ẩu”, “tò mò”; tật khoe khoang, nói khích; “thiếu ý thức pháp luật”; tật không chính kiến, không dám sống thật là vấn đề được các nhà tâm lý học, xã hội học, văn hóa học quan tâm nhiều. Ngược lại, một số lại có lối sống thực dụng, ích kỷ với một “cái tôi quá lớn”. Tất cả những nhận xét này đều có cơ sở, nhằm chỉ ra những “tính xấu” cần khắc phục để cùng nhau xây dựng một xã hội văn minh, xây dựng hình ảnh con người Việt Nam luôn tốt đẹp, văn minh, góp phần chuyển từ “văn hóa nông nghiệp” sang “văn hóa công nghiệp” trong tâm lý người Việt Nam. Ở đây cần nhắc lại rằng “đừng khái quát quá mức”, đặt vấn đề trong phạm trù “cá biệt và phổ biến”…, nhằm loại bỏ tình trạng “con sâu bỏ rầu nồi canh”, những tính xấu của một số rất nhỏ làm ảnh hưởng đến giá trị của cả một dân tộc.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisement

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s