Mối quan hệ gen – người – Phần VI


Chúng ta cũng có thể nói: “Vậy, điều gì sẽ xảy ra nếu những con chim trung thực trả đũa lại bằng cách tránh bị lừa dối và cương quyết chỉ ấp một và chỉ một quả trứng mà thôi? Điều này sẽ làm nản lòng những kẻ lừa dối, bởi chúng sẽ thấy những quả trứng của mình nằm lăn lóc trên các tảng đá mà chẳng có ai ấp cả. Những con chim này sẽ sớm trở lại đội ngũ”. Đáng tiếc, điều đó sẽ không xảy ra. Bởi vì chúng ta đang công nhận rằng những kẻ ấp trứng không biệt đối xử với một quả trứng từ một con khác, nếu những con chim trung thực đưa kịch bản này vào thực tế để ngăn chặn sự gian dối, những quả trứng bị từ chối có thể sẽ là của chúng hoặc là của những kẻ gian dối. Những kẻ gian dối sẽ vẫn có lợi thế bởi chúng sẽ có thể đẻ thêm trứng và có nhiều con non có thể sống sót hơn. Cách duy nhất để các con chim Uria trung thực đánh bại những kẻ gian dối là chủ động phân biệt những quả trứng của chính nó. Kết quả là, hãy đừng thể hiện tính vị tha và chăm sóc cho quyền lợi của chính mình.

Theo cách nói của Maynard Smith, “chiến lược” vị tha trong việc nuôi con nuôi không phải là một chiến lược tiến hóa bền vững. Nó không bền vững bởi chiến lược của đối thủ vị kỷ có thể tốt hơn thông qua việc đẻ trứng nhiều hơn bình thường và sau đó từ chối ấp chúng. Chiến lược vị kỷ này sau đó cũng sẽ trở thành không bền vững bởi chiến lược vị tha mà bản thân nó lợi dụng là không ổn định và sẽ biến mất. Chiến lược tiến hóa ổn định duy nhất cho một con chim Uria là nhận ra trứng của chính nó và chỉ ấp trứng của nó mà thôi. Đây chính là điều đang xảy ra.

Những loài chim biết hót bị chim cu cu ký sinh phản công lại, không phải bằng cách nhận ra vẻ bề ngoài các quả trứng của chúng mà bằng sự phân biệt theo bản năng đối với các quả trứng có các dấu hiệu đặc trưng của loài. Việc này là hiệu quả vì những loài chim này không phải chịu nguy hiểm do bị ký sinh bởi các thành viên trong cùng loài của chúng. Nhưng các con chim cu cu đã trả đũa bằng cách đẻ ra những quả trứng ngày càng giống với trứng của loài vật chủ về màu sắc, kích thước và các dấu hiệu. Đây là một ví dụ về sự lừa dối, và nó thường thành công. Kết quả của cuộc chạy đua vũ trang trong tiến hóa này là sự hoàn hảo xuất sắc trong việc giả trang của trứng chim cu cu. Chúng ta có thể giả thiết rằng một phần trong số trứng và chim cu cu non bị “phát hiện” và một số khác không bị phát hiện ra là những con có thể sống sót và đẻ tiếp các trứng chim cu cu thế hệ tiếp theo. Vì vậy, các gen giúp cho việc đánh lừa có hiệu quả được phát tán trong vốn gen của loài chim cu cu. Tương tự, những con chim chủ với cặp mắt đủ sắc bén để phát hiện ra những điểm không hoàn hảo trong sự giả trang của trứng chim cu cu và những con đóng góp chủ yếu cho vốn gen của chúng. Vì vậy, những cặp mắt sắc bén và đa nghi sẽ được truyền qua các thế hệ tiếp theo của chúng. Đây là một ví dụ tốt cho việc làm thế nào mà chọn lọc tự nhiên có thể làm tăng khả năng phân biệt, trong trường hợp này là sự phân biệt đối với một loài khác mà các thành viên của loài đó đang cố gắng hết mình để đánh lạc hướng những kẻ có khả năng phân biệt.

Bây giờ chúng ta hãy trở lại với sự so sánh giữa “sự ước tính” của một loài động vật về quan hệ họ hàng của nó với các thành viên khác trong nhóm và sự ước tính tương ứng của một nhà tự nhiên học thực địa. Brian Bertram đã tiêu tốn hàng năm trời trong việc nghiên cứu sinh học của những con sư tử trong vườn quốc gia Serengeti. Dựa trên cơ sở những hiểu biết của mình về thói quen sinh sản của chúng, ông đã ước tính độ thân thuộc trung bình giữa các cá thể trong một bầy sư tử điển hình. Trên thực tế, ông thường thực hiện những ước tính của mình như sau. Một bầy sư tử điển hình bao gồm bảy con cái trưởng thành, những thành viên cố định của bầy, và hai con đực trưởng thành không cố định. Khoảng một nửa trong số các con cái sẽ sinh một lứa vào cùng một thời điểm và cùng nhau nuôi nấng những con non. Vì thế, sẽ rất khó nói con non nào thuộc về cặp sư tử bố-mẹ nào. Số lượng của một lứa đẻ điển hình là 3 con non. Vai trò làm cha của những lứa đẻ được phân chia đồng đều giữa những con đực trong bầy. Những con non cái sẽ ở lại trong bầy và thay thế những con cái già sẽ chết đi hoặc rời khỏi đàn. Những con đực non sẽ bị đuổi ra khỏi bầy khi đến tuổi trưởng thành. Khi sư tử đực lớn lên, chúng lang thang từ bầy này sang bầy khác theo một nhóm nhỏ có mối liên hệ với nhau hoặc thành từng cặp, và chúng thường không trở về gia đình ban đầu của mình.

Sử dụng điều này và những giả thiết khác, bạn có thể thấy rằng để tính toán một con số trung bình cho độ thân thuộc của hai cá thể từ một bầy sư tử điển hình là có thể. Bertram đưa ra con số 0,22 cho một cặp đực được chọn một cách ngẫu nhiên và 0,15 cho một cặp cái. Điều này nói lên rằng các con đực trong một bầy hơi kém gần gũi hơn một chút với các anh em cùng mẹ hoặc cha và các con cái gần gũi hơn một chút so với các chị em họ thế hệ thứ nhất (con chú con bác).

Bây giờ, tất nhiên là bất kỳ một cặp cá thể nhất định đều có thể là anh em ruột như Bertram không có cách nào để biết được điều này và có thể đánh cược một cách công bằng rằng các con sư tử cũng không biết điều đó. Mặt khác, những con số trung bình mà Bertram đã ước tính có thể dùng được cho chính những con sư tử trong một hoàn cảnh nhất định. Nếu những con số này thực sự là điển hình cho một bầy sư tử trung bình thì bất kỳ gen nào dẫn đến việc các con đực cư xử với những con đực khác như thể chúng gần như là anh em cùng mẹ hoặc cha sẽ có giá trị tồn tại dương. Bất kỳ gen nào đi quá xa và khiến cho các con đực cư xử theo cách thân thiện mà ưu đãi hơn cho các anh em ruột sẽ bị trừng phạt. Điều đó cũng sẽ xảy ra với một gen khiến cho việc đối xử không đủ thân thiện, như việc đối xử với các con đực khác như những anh em họ thế hệ thứ hai. Nếu thực tế cuộc sống của các con sư tử như Bertram đề cập và quan trọng là nếu chúng đã, đang và sẽ như vậy trong số lượng lớn các thế hệ, chúng ta có thể cho rằng chọn lọc tự nhiên sẽ ưu tiên một mức độ hành động vị tha phù hợp với một mức độ thân thuộc trung bình của một bầy điển hình. Đây là điều mà tôi muốn đề cập tới khi tôi nói rằng sự ước tính về quan hệ họ hàng của động vật và một nhà tự nhiên học có tài có thể đưa đến một kết quả gần như nhau.

Vì vậy, chúng ta kết luận rằng độ thân thuộc “thực sự” có thể ít quan trọng trong sự tiến hóa của tính vị tha hơn là ước tính tốt nhất về độ thân thuộc mà các loài động vật có thể có. Thực tế này có thể là một chìa khóa để hiểu được tại sao sự chăm sóc của bố mẹ lại phổ biến và tận tâm hơn rất nhiều so với hành động vị tha của anh/chị trong tự nhiên, và cũng hiểu được tại sao các loài động vật thậm chí có thể đánh giá bản thân chúng cao hơn so với một số anh em. Tóm lại, điều mà tôi đang nói đến là bên cạnh chỉ số về sự thân thuộc, chúng ta nên cân nhắc đến một điều gì đó, như chỉ số của “sự chắc chắn” chẳng hạn. Mặc dù, mối quan hệ cha mẹ/com cái không gần gũi về mặt di truyền hơn so với mối quan hệ anh em/chị em, độ chắc chắn của nó vẫn lớn hơn. Thường thì bạn có thể chắc chắn về việc ai là con của bạn nhiều hơn là việc ai là anh em của bạn. Và bạn có thể vẫn chắc chắn hơn về việc bản thân bạn là ai!

Chúng ta đã xem xét những kẻ lừa dối trong các con chim Uria, và chúng ta sẽ có nhiều điều để nói hơn về những kẻ nói dối, gian lận và lợi dụng trong những chương tiếp theo. Trong một thế giới mà các cá thể khác liên tục cảnh giác với những cơ hội để lợi dụng tính vị tha mang tính chọn lọc theo họ hàng, và sử dụng nó cho những mục đích cuối cùng của chúng, một cỗ máy sống phải xem xét xem ai có thể tin cậy và ai là người mà nó có thể thực sự chắc chắn. Nếu B thực sự là em trai tôi thì tôi nên quan tâm đến nó ít nhất phải bằng một nửa sự quan tâm của tôi dành cho bản thân mình và tương đương với sự quan tâm của tôi đến đứa con của mình. Nhưng liệu tôi có thể chắc chắn về nó như tôi có thể chắc chắn về đứa con của mình? Làm sao tôi có thể biết được nó là em trai tôi?

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Richard Dawkins – Gen vị kỷ – NXB TT 2011.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s