Các giá trị trong văn minh công nghiệp – Phần III


Kết quả của đổi mới tư duy từ năm 1986 đã mở ra một thời kỳ hoàn toàn mới, bắt đầu xây dựng một nước Việt Nam mới là Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tôn chỉ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”, ba giá trị vô cùng thiêng liêng của cả dân tộc và của mỗi người Việt Nam. Ba giá trị này là mục đích phấn đấu tối cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Đặc điểm lớn nhất của xã hội ta khi bước vào thế kỷ XXI là công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế trong điều kiện kinh tế thị trường. Như vậy, nghiên cứu các giá trị xã hội thời nay ở nước ta có thể tập trung vào tìm hiểu các giá trị: cộng hòa, dân chủ, kinh tế thị trường, công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Thuật ngữ “cộng hòa” (republic) dùng để chỉ một chế độ, một chính thể chính trị, Quốc hội do cử tri bầu ra. Thuật ngữ này do Platon và sau là Aristotle đưa ra đầu tiên, sau này dùng nhiều từ thời Phục hưng. Chính thể mang nội hàm chủ ý tới lợi ích chung của công dân, quyền dân chủ và thịnh vượng chung. Chế độ cộng hòa và nhà nước cộng hòa bắt đầu từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, phát triển mạnh ở thế kỷ XX, hiện nay có 135 trong 206 quốc gia theo chế độ cộng hòa, đại thể giống nhau về chính thể nhưng cũng có nhiều khác biệt ở một số chính thể như Cộng hòa nhân dân, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa và một số hình thức khác ở một số nước khác.

Về phạm trù “dân chủ”, sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta xóa bỏ chế độ thực dân – phong kiến, bắt tay vào xây dựng chế độ chính trị dân chủ, theo chế độ cử tri bầu ra Quốc hội. Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước và Chính phủ. Lúc này, nhân dân mới thực sự được làm chủ vận mệnh đất nước. Chính nhờ yếu tố này mà chúng ta đã chiến thắng tất cả các kẻ thù xâm ược trong thế kỷ XX. Thuật ngữ “dân chủ” khởi xuất từ tiếng Hy Lạp “demokratia”, nghĩa là “quyền lực thuộc về con người” (“demo” là người, “kratia” là “quyền lực”) hay “quyền lực thuộc về nhân dân”, chứ không thuộc một người hay một nhóm người, được thực hiện dưới hai hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Dân chủ trước hết để bảo đảm quyền tự do, quyền bình đẳng nói chung và quyền bình đẳng trước pháp luật nói riêng, trong đó có quyền con người. Nhiều khi “quyền con người” (nhân quyền) được hiểu là nằm trong “quyền công dân”. Đến năm 2013, trong Hiến pháp sửa đổi (chương II) của nước ta đã ghi rõ hai quyền này. Để phát huy sức mạnh của con người, phải bảo đảm cho họ quyền tự do, bình đẳng – một mốc lớn nhất trong lịch sử tiến hóa dứt khoát ra khỏi giới động vật ngu muội, bước vào thế giới văn minh. Đến thế kỷ XX, sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1941 – 1945), loài người đi vào một giai đoạn phát triển hoàn toàn mới về quyền con người với dấu mốc năm 1948, Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn nhân quyền, sau đó một số châu lục và một số nước cũng có tuyên ngôn tương tự. Ở Việt Nam, quyền con người gắn liền với quyền dân tộc có giải phóng dân tộc, con người mới có các quyền như quyền sống, quyền học tập, quyền phát triển…

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc là ba giá trị quốc gia vô cùng thiêng liêng, cao quý của dân tộc ta, là thành quả của bao thế hệ nối tiếp nhau chiến đấu, hy sinh để có được nước Việt Nam như ngày hôm nay. Ngày nay, các nhà khoa học, các nhà giáo có trách nhiệm trọng đại là kế thừa và truyền đạt cho thế hệ trẻ tiếp tục bảo vệ nền độc lập, chủ quyền của đất nước, và mỗi người cùng cả dân tộc xây dựng cuộc đời tự do, hạnh phúc. Ngày nay, trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ gìn độc lập dân tộc gắn liền với hội nhập quốc tế (trên thế giới trong một số văn bản hay dùng hai thuật ngữ “independence” là “độc lập” và “independence” là “phụ thuộc lẫn nhau”). Hội nhập quốc tế dựa trên cơ sở độc lập dân tộc, giữ vững chủ quyền, bảo toàn lãnh thổ, giao lưu văn hóa đi liền với giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Nước ta hiện nay, hội nhập quốc tế chẳng những về kinh tế mà còn hội nhập toàn diện, tình hình có phức tạp hơn các giai đoạn trước của cách mạng Việt Nam, nhất là trước quy luật cạnh tranh khu vực và toàn cầu. Từ năm 1979, Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đã điều tra và công bố “Báo cáo cạnh tranh toàn cầu”, nhằm đánh giá khả năng cung cấp mức độ thịnh vượng cao hay thấp của nhân dân ở mỗi quốc gia, thông qua đo lường các thể chế, chính sách và các chỉ số khác về kinh tế, như lạm phát, cơ sở hạ tầng, lao động có trình độ đào tạo, mức độ tham nhũng, qua đó có thể đánh giá môi trường kinh doanh, vốn đầu tư, tổng quát, đánh giá mức độ tăng trưởng kinh tế bền vững. Báo cáo đánh giá hơn 130 quốc gia, Việt Nam xếp thứ hạng trung bình: năm 2008, Việt Nam xếp thứ 70/134; năm 2013 – 2014: xếp thứ 70/148. Bước vào thế kỷ mới, trong năng lực cạnh tranh rất chú ý tới “sức mạnh mềm”, tức sức mạnh văn hóa, trong đó có hệ giá trị nhấn mạnh nhân tố con người – dân trí, nhân lực, nhân tài, quan tâm hàng đầu đến phát triển giáo dục (bao gồm cả đào tạo) là một nhân tố quan trọng trong kết cấu hạ tầng xã hội – kinh tế. Chính nhân tố này có vai trò quyết định đối với giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc trong hội nhập quốc tế, tiếp biến văn hóa.

Ba phạm trù “độc lập”, “tự do”, “hạnh phúc”, là ba phạm trù khoa học khá phức tạp, cũng là ba phạm trù rất hệ trọng trong nội hàm “lý tưởng” của loài người và con người, đồng thời thường đi liền với cuộc sống thực của con người, các tộc người. Các dân tộc ở các thời đại khác nhau lại có các quan niệm khác nhau về các phạm trù này. Cần nhấn mạnh tính thời sự của các phạm trù này, riêng “tự do” và “hạnh phúc” là hai phạm trù rất cơ bản trong quyền con người, được con người đặc biệt quan tâm hiện nay. Quan niệm về phạm trù “tự do” bắt đầu tư việc thoát khỏi chế độ nô lệ, chế độ thực dân, thuộc địa. Có nhiều tiêu chí khác nhau về tự do như tự do kinh tế, trong đó có tự do về sở hữu, tự do về trách nhiệm, tự do hôn nhân… Có khi nói về “tự do học thuật” hay còn gọi là “tự do hàn lâm” là một giá trị không thể thiếu đối với các trường đại học và các viện nghiên cứu; “tự do cá nhân” trong khoa học, chính trị, như tự do tư tưởng (tự do suy nghĩ); tự do ngôn luận, tự do sống, tự do mưu cầu hạnh phúc, tự do tham gia các hội đoàn… là các vấn đề rất thời sự với cả thế giới hiện đại và hậu hiện đại. Ở đây, trình độ hiện đại không phải chi đánh giá qua các phương tiện kỹ thuật, mà còn được đo bằng mức độ tự do trong xã hội, cộng đồng, của từng con người, bàn bạc rất nhiều trong chủ đề “xã hội hóa”, “xã hội mở, vai trò của các tổ chức quần chúng, triết học hiện sinh… Từ năm 1990, Tổ chức Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) cũng quan niệm tự do quan trọng nhất là “tự do lựa chọn”. Ở nước ta, các quyền tự do cơ bản của con người và công dân đều đã có trong Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp sửa đổi năm 2013. Đó là thành quả của cách mạng, là sự đóng góp sức người và sức của của toàn dân tộc để đem lại cuộc sống tự do. Về phương diện xã hội, cộng đồng, để xây dựng xã hội tự do phải có lộ trình cụ thể như Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện, phụ thuộc vào nhiều điều kiện khách quan và chủ quan, tự do trong khuôn khổ luật pháp, quy chế, nội quy. Trong quá trình thực hiện, chúng ta đã rút ra bài học: một cá nhân hay một tập thể, không nên tạo ra những rào cản không cần thiết, có hại cho sự phát triển con người, dân trí, nhân lực, nhân tài, từ đó, phương hại đến cả sự phát triển xã hội – kinh tế. Đó là bài học của quá khứ và hiện tại. Mục tiêu của cách mạng và đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là hướng tới một xã hội tự do, phồn vinh, tốt đẹp với những con người tự do, được tự do phát triển bền vững, chính trực, chân thành, sẵn sàng góp sức xây dựng xã hội đó. Con người tự do sống trong xã hội tự do là niềm hạnh phúc lớn lao. Đó là lý tưởng của loài người bao thế kỷ nay, đòi hỏi phải có sự hy sinh, nỗ lực thực hiện từng bước.

Quyền con người ngày nay là chỉ số quan trọng của chế độ dân chủ, chứ không phải chỉ dựa vào chỉ số kinh tế tổng sản phẩm trong nước hay chỉ số phát triển người. Theo Cơ sở dữ liệu Thế giới Hạnh phúc điều tra chỉ số hạnh phúc, Việt Nam được xếp vào loại rất cao. Có thể giải thích hiện tượng này như sau: từ tình cảnh chiến tranh sang hòa bình, từ cảnh ngộ đất nước chia cắt đến thống nhất, từ cuộc sống kinh tế cực kỳ khốn khó thời chiến và khủng hoảng đến kinh tế thị trường nên phần lớn người dân đều thấy sung sướng hơn, hài lòng hơn trước.

Phạm trù “hạnh phúc” gắn liền với phạm trù “tự do”. Cũng như phạm trù “tự do”, phạm trù “hạnh phúc” rất phức tạp về mặt khao học lẫn về mặt thực tiễn, lại mang đậm nét chủ quan của mỗi người, mỗi hoàn cảnh. Theo điều tra tiến hành từ năm 2001 đến năm 2005 với 328 công nhân, 306 nông dân, 139 doanh nhân và 326 trí thức, kết quả do các nghiệm viên tự đánh giá không hạnh phúc hay có hạnh phúc, xếp theo 10 bậc, nếu lấy từ bậc 6 trở lên, tức là mức hạnh phúc trên trung bình trở lên, tỷ lệ đạt đến 91%.

(còn tiếp) 

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Phạm Minh Hạc – Tìm hiểu các giá trị dân tộc Việt Nam với tâm lý học và giáo dục học – NXB CTQG 2015.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s