Khâu thực thi trong quản lý kiểu Trung Quốc – Phần cuối


“Cương nhu kết hợp, đối xử chân thành”

Theo chủ trương quản lý kiểu Trung Quốc, một người lãnh đạo thực sự có uy tín phải biết giữ khoảng cách nhất định với cấp dưới, không nên quá xa cách, nhưng cũng không quá dễ dãi. Nếu bạn là một nhà lãnh đạo thì bạn phải vừa chú ý có được tình cảm của cấp dưới, đồng thời có lúc cần phải nghiêm khắc, cứng rắn, không được mềm lòng mà nương tay. Trong quá trình làm việc cần kết hợp ân và uy, cư xử bằng tình cảm chân thành, đó là bí quyết kỳ diệu của quản lý.

Niên hiệu Vĩnh Lạc (1403 – 1424) thời nhà Minh, bá quan văn võ đều rất cần mẫn làm việc, vì vậy trong thời đại vua Minh Thành Tổ biết cách dùng ngườiv à hiểu người này có rất nhiều các bề tôi nổi tiếng có tài. Minh Thành Tổ (Chu Đệ) thưởng phạt rất phân minh, đánh giá đúng tài năng, không câu nệ phẩm cấp, hơn thế ông rất chân thành đối đãi với người khác. Ông cổ vũ các bề tôi nói thẳng, nhưng những việc đại sự lại do chính bản thân mình quyết định. Đây chính là một trong những nhân tố cực kỳ quan trọng giúp ông giành được thành công trong sự nghiệp.

Minh Thành Tổ rất nghiêm túc khi hành pháp, đối với những người vì vô trách nhiệm mà gây hậu quả, nhẹ thì giáng cấp hoặc bãi chức, nặng thì giam vào ngục hoặc xử tội chết. Ví dụ quan ngự sử Ngọc Dữ và người của bộ Hình cùng cẩm y vệ đã quyết tội nhầm, dẫn đến giết chết bốn người vô tội. Sauk hi Minh Thành Tổ biết chuyện đó, ông lệnh lập tức bắt giữ bốn người trong đó có Ngọc Dữ, và ngay trong ngày hôm đó “bốn người lập tức ra khỏi thành”. Sở Tam Pháp là cơ quan hành pháp, Minh Thành Tổ căn dặn cơ quan này phải trong sạch và thương yêu bách tính, khi hành pháp phải công bằng, kh6ong được nhận hối lộ. Nếu không, “phạm tội là xử theo luật”.

Minh Thành Tổ một mình nắm quyền trị vì đất nước, các quan đại thần luôn luôn giữ lòng kính phục đối với ông, khi còn đương chức họ đều không dám lơi là công việc, thậm chí có người còn mang tâm lý nơm nớp lo sợ. Ví dụ, vào mùa đông năm Vĩnh Lạc 19 (1421), Minh Thành Tổ chuẩn bị thân chinh Ngoại Mông lần thứ ba, Thượng thư bộ Hộ Hạ Nguyên Cát và Thượng thư bộ Binh Phương Binh đều có ý phản đối, rốt cuộc Hạ Nguyên Cát bị tống giam, còn Phương Binh thì tự sát. Minh Thành Tổ lại lệnh cho Thượng thư bộ Lễ là Lữ Chấn kiêm luôn chức Thượng thư bộ Hộ và bộ Binh. Lữ Chấn vô cùng lo sợ. Minh Thành Tổ thấy thế liền lệnh cho 10 viên quan giám sát Lữ Chấn như hình với bóng, nói với họ rằng: “Nếu Lữ Chấn tự sát thì khép cả 10 người bọn ngươi vào tội chết”. Một viên quan Thượng thư bộ Lễ mà còn vậy thì khỏi cần nói đến các viên quan khác.

Minh Thành Tổ đối với bề tôi không chỉ úy quyền mà còn có tình cảm, đó chính là “uy và ân kết hợp”. Ví dụ, Giải Tự và Hồ Quảng là đồng hương, đồng môn, trong triều lại là Nội Các Học sĩ, đương nhiên Minh Thành Tổ làm mối cho con cái nhà họ thành duyên. Về sau, tuy Giải Tự bị bắt giam đến chết nhưng con trai của ông vẫn lấy được con gái của Hồ Quảng.

Tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ bảy (1409), Minh Thành Tổ hạ lệnh cho nghỉ mười ngày từ ngày 11 cho đến ngày 20, để thần dân đón tết Nguyên tiêu. Trong mười ngày ấy, “bách quan trong triều không phải tham gia việc tấu sự, lấy việc xem thần dân thắp đèn mở tiệc rượu làm niềm vui, bãi bỏ lệnh cấm đoán hoạt động về đêm”. Tục lệ nghỉ tết Nguyên tiêu vào thời Minh Thanh là bắt nguồn từ đấy, đó cũng là hành động thể hiện sự quan tâm của Minh Thành Tổ đến những việc nhỏ nhặt trong đời sống của thần dân.

Tháng Mười năm ấy, do Bắc Kinh rất lạnh nên Minh Thành Tổ sợ buổi sáng các quan vào thiết triều đứng lâu bên ngoài sẽ cảm lạnh, ông bèn cho thiết triều ngoài trời thành vào trong điện, quan lại có việc bẩm báo lần lượt vào tấu, không có việc gì thì có thể quay về làm việc.

Thời kỳ đầu khi Minh Thành Tổ mới lên ngôi, ông đã xử lý rất nghiêm những người được coi là có tư tưởng thay đổi chế độ cũ. Quan Thiếu khanh tự Ngự Khiêm tự thuật lại rằng, theo luật cũ, đối với tăng đạo trong thiên hạ, mỗi người chỉ được phép có năm mẫu ruộng, phần thừa ra nộp cho quan, còn nếu không đủ ruộng thì quan phủ sẽ bán lại. Ông tấu trình rằng: “Luật này nên thay đổi, còn tội của thần thì xin hãy trị theo luật”. Minh Thành Tổ cười nói: “Vị tú tài này từ bi như đức Phật” và không hề trị tội Ngự Khiêm. Từ đó có thể thấy, đối với những người muốn cải cách chế độ cũ, Minh Thành Tổ vẫn còn có những cách đối xử riêng biệt.

Thưởng phạt phân minh là sự đảm bảo quan trọng trong lịch sử thống trị của nhà Minh, chính vì vậy Minh Thành Tổ rất coi trọng vấn đề này. Minh Thành Tổ hành pháp vô cùng nghiêm khắc, đặc biệt là đối với những công thần đã cùng ông nằm gai nếm mật, cũng không vì họ có công mà cho qua, khi có tội vẫn xử theo luật hình. Trước đây, công thần của các triều đại trong lịch sử đều kiêu ngạo không tuân thủ pháp luật, trong những năm Vĩnh Lạc hầu như không thấy những việc như thế, điều này có liên quan đến nghệ thuật quản lý các quan lại của Minh Thành Tổ. Có một lần, khi bộ Hình đang định tội một số công thần đã cùng Minh Thành Tổ đồng cam cộng khổ, họ đã thỉnh cầu ông hãy nghĩ đến công lao trước đây của họ mà giảm nhẹ mức án, nhưng họ nhận lại được những lời răn dạy của Minh Thành Tổ và ông vẫn kiên quyết xử tội theo đúng luật. Minh Thành Tổ nói rằng: “Trong triều đình phải lấy việc công làm chính, có công ắt sẽ có thưởng, có tội ắt sẽ bị xử. Người thưởng phạt dựa theo pháp luật trị vì thiên hạ, không vì có công mà cho qua, không vì việc tư mà làm hỏng việc công. Công lao cả đời nhưng đã được ban thưởng không ít bổng lộc, nay có tội lại không trị tội, đấy là tiếp tay cho cái xấu. Nếu đã dung túng cho cái xấu thì sao có thể trị thiên hạ? Nên cứ theo luật mà làm”. Đoạn trích trên thể hiện rất rõ quan điểm của Minh Thành Tổ về việc thưởng phạt, đây cũng là một nguyên nhân quan trọng giúp cho sự nghiệp của ông giành được thành công lớn.

Đối với những người có công, Minh Thành Tổ không tiếc ban thưởng Ví dụ, ngay những người lập công khi còn nằm gai nếm mật, cho dù đã chết nhưng vẫn được truy phong theo công trạng. Trương Ngọc đã hy sinh trong trận chiến Đông Xương, Minh Thành Tổ vẫn truy phong cho ông làm công thần danh dự của đất nước. Ông còn lo lắng việc thưởng cho những công thần không được thỏa đáng nên lệnh cho các quan đưa đề nghị để phong thưởng cho những vị công thần còn bị sót lại.

Đối với các cựu thần thời Kiến Văn chỉ cần họ không giữ thái độ thù địch thì sau khi quy hàng đều được tín nhiệm, hơn thế còn tùy công mà luận thưởng. Vào thời Vĩnh Lạc nhiều vị trí quốc danh thần đều là cựu thần thời kỳ Kiến Văn quy hàng như Dương Sĩ Kỳ, Dương Vĩnh, Sài Nghị, Hạ Nguyên Cát… Các vị quan này đều để lại công trạng và nhiều lần được Minh Thành Tổ ban thưởng. Riêng Dương Vinh là người có nhiều thành tích về mặt quân sự, nên khi ông về quê, Minh Thành Tổ đã đặc cách ra lệnh cho một vị thái giám theo hầu, coi đó như một vinh hạnh và sủng ái cho Dương Vinh. “Nội thần theo hầu chỉ có duy nhất Dương Vinh thời Vĩnh Lạc”. Vì quan thái giám là người chỉ theo hầu Hoàng đế, nhưng Minh Thành Tổ lại cho họ theo hầu một vị cựu thần thời Kiến Văn, điều đó duy nhất chỉ xuất hiện ở thời Minh. Sự đãi ngộ đầy ân nghĩa này khiến cho toàn bộ quan lại trong triều không khỏi ngạc nhiên.

Tháng Hai năm Vĩnh Lạc thứ mười (1412), Minh Thành Tổ đã phong quan cho Dương Sĩ Kỳ, Dương Vinh, Sài Nghi, Hạ Nguyên Cát và còn thưởng hậu cho cụ cố, bố mẹ và vợ của bốn người kể trên. Đây là việc thưởng công báo đáp lại việc họ đã tận tụy với triều đại mới và khích lệ họ tiếp tục đóng góp công lao. Cũng chính vào tết Nguyên tiêu năm đó, Hạ Nguyên Cát dẫn mẹ của mình đi xem hoa đăng. Minh Thành Tổ sau khi biết được tin đó liền lập tức ra lệnh cho thái giám mang hai trăm ngân lượng biếu cho mẹ của Hạ Nguyên Cát. Đây chỉ là một việc nhỏ nhưng nó phản ánh mối quan hệ vô cùng mật thiết giữa Minh Thành Tổ với những quan lại có công lớn với đất nước.

Đối với việc thăng quan hay giáng chức của quan lại, Minh Thành Tổ rất cẩn thận. Ông từng nói với các đại thần bên cạnh mình rằng: “”Vua dùng một người hay bỏ một người kkho6ng được tùy tiện, nhất định phải khiến choo người khác tâm phục. Nếu như tiến cử một người mà cả thiên hạ đều biết đó là kẻ có tài thì ai mà chẳng muốn theo họ thành tài, nếu cách hức một người mà thiên hạ đều biết đó là kẻ ác thì ai còn dám theo hắn làm điều ác nữa đây? Không có tài mà vẫn được tiến cử thì đó là do ưu ái cá nhân, nếu không gây ra điều ác mà vẫn bị cách chức thì đó là do tư thù. Cứ theo tình riêng thì làm sao có thể khiến cho thiên hạ phục được đây?

Những lời nói trên của Minh Thành Tổ không phải là những câu nói mang hàm ý sâu sắc, nhưng những người có thể làm được điều này không nhiều. Cho dù chúng ta nhìn vào hiện tại, những câu nói đó của ông vẫn tỏa sáng một chân lý không bao giờ tắt, Minh Thành Tổ hiểu được điều này và làm đúng như thế, chính điều đó đã giúp ông trở thành một trong những vị vua thành công trong lịch sử Trung Quốc.

Minh Thành Tổ một tay điều hành đất nước, kết hợp được ân và uy đối với các đại thần, vì vậy cuối triều đại của ông, các đại thần đều người nào việc nấy, cân nhắc kỹ lưỡng khi làm việc, không ai dám vượt mặt. Đối với những nhà lãnh đạo hiện nay, đó là một tấm gương rất đáng để chúng ta học tập. Khi đối xử với cấp dưới phải biết kết hợp cả ân và uy, đối với những điểm không đúng của cấp dưới cố nhiên phải có thái độ trách cứ rõ rang; ngược lại, với những điểm thể hiện rõ tài năng nổi trội của họ càng không thể gạt đi mà phải có những khen thưởng thích hợp, như vậy mới khiến cho tâm lý của cấp dưới cân bằng.

TH: T.Giang – SCDRC

Nguồn tham khảo: Tư Mã An – 72 phép quản lý kiểu Trung Quốc – NXB LĐXH 2011.

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s