Kinh nghiệm trong thời kỳ quá độ của Việt Nam có ích thế nào đối với Triều Tiên? – Phần I


Chuyến thăm gần đây tới Hà Nội của Bộ trưởng Ngoại giao Triều Tiên Ri Yong Ho và tuyên bố rằng Việt Nam sẽ là nơi tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh lần thứ hai giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un vào ngày 27 – 28/02 tới đã khơi gợi lại mối quan tâm tới việc câu chuyện thành công của Việt Nam có thể liên quan thế nào tới Triều Tiên hiện nay. Vào cuối những năm 1980, cả hai nước đều phải đối mặt với tình trạng nền kinh tế nhà nước hoạt động yếu kém, sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc và cú sốc về kinh tế do sự cắt giảm mạnh viện trợ của Liên Xô và thương mại. Trong khi các cuộc khủng hoảng kinh tế kìm kẹp cả hai nước, thì những lựa chọn chiến lược của họ để ứng phó lại hoàn toàn khác biệt. Việt Nam chọn cách bắt tay vào cải cách kinh tế, rút quân khỏi Campuchia, giảm biên chế quân đội, cải thiện quan hệ với Mỹ và tự mở cửa ra cộng đồng quốc tế để tiếp nhận viện trợ, đầu tư và thương mại. Triều Tiên đã ứng phó bằng cách thực hiện các chính sách kinh tế tự lực theo chủ nghĩa biệt lập, tìm cách cải thiện quan hệ liên Triều, gia tăng căng thẳng quân sự bằng cách theo đuổi một chương trình vũ khí hạt nhân và một chính sách đối đầu với Mỹ, và kêu gọi viện trợ nhân đạo từ cộng đồng quốc tế khi phải đối mặt với sự suy sụp về kinh tế và nạn đói ngày càng tăng.

Quỹ đạo của hai nước kể từ đầu những năm 1990 minh chứng cho những kết quả đáng chú ý của các chiến lược này. Trong những thập kỷ qua, chế độ Triều Tiên đã phải vật lộn với những thách thức trong việc phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, ổn định xã hội và duy trì một hệ thống chính trị cộng sản, điều hẳn khiến người ta đặc biệt quan tâm tới kinh nghiệm của Việt Nam khi Kim Jong-un bắt đầu tiến hành cái gọi là đường lối chiến lược mới, ưu tiên phát triển kinh tế.

Những điểm tương đồng giữa Việt Nam khi đó và Triều Tiên hiện nay

Mặc dù hai nước rất khác nhau về tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu kinh tế và nhân khẩu học, nhưng một số khía cạnh trong kinh nghiệm thời kỳ đầu quá độ của Việt Nam dường như có liên quan tới Triều Tiên hiện nay, bất chấp sự cách biệt về thời gian. Những khía cạnh này bao gồm:

+ Cam kết cao độ đối với việc cải thiện nền kinh tế;

+ Thử nghiệm cải cách;

+ Tìm hiểu quan điểm của người ngoài cuộc;

+ Thách thức của việc thay đổi chính sách an ninh quốc gia; và

+ Vai trò của những người ở miền Nam trong nền kinh tế.

Cam kết cao độ đối với việc cải thiện nền kinh tế

Năm 1986, sau một thập kỷ kinh tế đình trệ và lo sợ lạm phát cao, ban lãnh đạo Việt Nam tại Đại hội Đảng lần thứ 6 đã đạt được một sự đồng thuận về đường hướng mới cho chính sách cải cách kinh tế được gọi là Đổi Mới. Việc mất đi viện trợ của Liên Xô và thương mại cũng hư những lo sợ về sự phụ thuộc quá mức vào Trung Quốc đã góp phần tạo nên những mối quan ngại này ở trong nước và dẫn tới quyết định tìm kiếm một mối quan hệ với Mỹ và mở cửa nền kinh tế Việt Nam với cộng đồng quốc tế nhằm giành được quyền tiếp cận tới tư vấn, viện trợ, đầu tư và thương mại.

Trong bài phát biểu mừng năm mới của mình vào năm 2012, Kim Jong-un đã nhấn mạnh việc cải thiện sinh kế cho toàn bộ người dân Triều Tiên và sau đó đưa ra nhữung thay đổi trong cơ cấu ra quyết định của ban lãnh đạo nhằm thể hiện sự thay đổi này. Tại Đại hội Đảng lần thứ 7 vào năm 2016, Triều Tiên chính thức thực hiện ch1inh sách chú trọng không kém đến an ninh quốc gia, nhấn mạnh các khả năng hạt nhân và tên lửa, và phát triển kinh tế. Năm 2017, căng thẳng quân sự leo thang và các biện pháp trừng phạt ngày càng gay gắt đã làm dấy lên nỗi ám ảnh về tình trạng đối đầu và khủng hoảng kinh tế. Cuối năm đó – sau vụ thử vũ khí hạt nhân có đương lượng nổ cao và vụ phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) lần thứ ba, nước này tuyên bố đã đạt được khả năng vũ khí hạt nhân đáng tin. Năm 2018, Kim Jong-un tuyên bố chuyển sang ưu tiên phát triển kinh tế trong nước, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động ngoại giao nhằm cải thiện quan hệ với cộng đồng quốc tế và mở rộng sự ủng hộ cho một ỷ nguyên mới về hòa bình và hợp tác kinh tế.

Thử nghiệm cải cách

Ngay cả trước Đại hội Đảng năm 1986, Việt Nam đã thử nghiệm các cải cách kinh tế ở quy mô nhỏ. Trong đó có nhữung cải cách cấp cơ sở trong ngành nông nghiệp theo mô hình tập thể hóa và phong trào “phá rào” ở các doanh nghiệp nhà nước vốn đã dẫn tới việc chấp nhận các nhân tố thị trường trong quy hoạch kinh tế. Việc phân quyền trong quy trình ra quyết định là một nhân tố chủ chốt trong những thử nghiệm này.

Triều Tiên cũng sẵn sàng thử nghiệm những cải cách dưới thời Kim Jong-un, đáng chú ý là ở Đặc khu kinh tế Rason tại khu vực biên giới với Trung Quốc và Nga. Tương tự, vào năm 2014, các cải cách thử nghiệm đã được đưa ra nhằm giảm bớt quy mô nông trại, cho phép một phần sản lượng được sử dụng trong các hộ gia đình và được bán trên các thị trường, và trao cho các nhà quản lý doanh nghiệp sở hữu nhà nước quyền tự quyết lớn hơn. Kể từ năm 2016, những cải cách này được mở rộng và việc phân quyền hơn trong quy trình ra quyết định được chú trọng nhiều hơn. Các thị trường được hợp pháp hóa vào năm 2003, nhưng sự kháng cự mang tính ý thức hệ đối với vai trò của thị trường trong nền kinh tế đã khiến sự phát triển kinh tế trở nên phức tạp. Tuy nhiên, việc chấp nhận mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động dựa trên thị trường đã cho phép tiến hành thử nghiệm kinh tế ở quy mô lớn hơn, làm gia tăng tiêu chuẩn sống của nhiều người Triều Tiên cũng như tầng lớp trung lưu mới nổi.

Tìm hiểu quan điểm của người ngoài cuộc

Việt Nam đã chủ động tìm hiểu quan điểm của người nước ngoài về các lựa chọn chính sách và chiến lược kinh tế, bắt đầu bằng những cuộc tham vấn âm thầm không chính thức vào những năm đầu Đổi Mới. Sau đó, vào những năm 1990 đã diễn ra các cuộc tham vấn cả song phương lẫn đa phương với các chính phủ tài trợ và các nhà đầu tư tư hân. Các cuộc tham vấn này đã cải thiện chất lượng của quy trình ra quyết định và lòng tin của nước ngoài vào quy trình này, và đã thúc đẩy các mối quan hệ hợp tác với các đối tác kinh tế trong khi ban lãnh đạo Việt Nam vẫn duy trì quyền sở hữu và quyền kiểm soát đối với tiến trình này.

Triều Tiên đã do dự trong việc tham gia đối thoại chính sách kinh tế cấp cao với các bên tham gia nước ngoài và thay vào đó theo đuổi một chính sách “quản lý theo cách riêng của chúng ta”. Căng thẳng chính trị và các biện pháp trừng phạt cũng đã cản trở các cuộc thảo luận này. Mặc dù vậy, trong những năm qua, các quan chức cấp thấp hơn và các học giả đã chủ động học hỏi kiến thức liên quan đến lĩnh vực kinh tế, thông qua các hình thức như tham gia các khóa bồi dưỡng và các buổi hội thảo trong nước, các chuyến học tập ở nước ngoài, các chương trình đào tạo đại học ở một số nước, và tích cực sử dụng mạng Internet để học hỏi kinh nghiệm của quốc tế và đào sâu hiểu biết về nền kinh tế thị trường. Những kinh nghiệm của Hàn Quốc và Trung Quốc và các mối quan hệ xuyên biên giới đã là một nguồn đặc biệt quan trọng cho các quan chức Triều Tiên học hỏi. Điều đã và đang bị bỏ qua là vai trò trong các thể chế tài chính quốc tế, mặc dù vào tháng 7/2014, Triều Tiên đã được thừa nhận là quan sát viên của Nhóm châu Á – Thái Bình Dương về chống rửa tiền thuộc Lực lượng đặc nhiệm tài chính thuộc Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD).

(còn tiếp) 

Nguồn: www.38north.org – 07/02/2019

TLTKĐB – 14/02/2019

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s