Kết quả nghiên cứu cơ bản là cơ sở của một nền công nghiệp đủ sức cạnh tranh – Phần đầu


E.M. Dianov

LTS: Đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào công nghiệp đang là một mệnh lệnh của thời đại, góp phần tạo nên các công nghệ mới, các ngành sản xuất mới. Nói cách khác, đó là cơ sở để phát triển nền kinh tế quốc dân, còn đối với khoa học – đó là nguồn tài chính bổ sung. Theo tác giả bài viết, quá trình này chỉ có thể thành công nếu đề ra được một bộ luật về sở hữu trí tuệ, có tác dụng hỗ trợ và khuyến khích đưa các triển khai khoa học vào nền công nghiệp. Cần phải tổ chức một hạ tầng cơ sở tương ứng mà những hợp phần quan trọng của nó là các cơ quan đăng ký pháp lý và cấp bằng sáng chế, các nhóm phát minh sáng chế trực thuộc các cơ quan khoa học.

Chúng ta đều biết rõ vai trò to lớn của khoa học trong xã hội hiện đại, ảnh hưởng có ý nghĩa quyết định của nó đối với sự tăng trưởng kinh tế, tiềm năng quân sự, giáo dục và văn hóa, và xét cho cùng, tới phúc lợi vật chất và tinh thần của nhân dân. Tuy nhiên, chính sách của nhà nước đối với khoa học trong những năm 90 thực tế đang dẫn đến chỗ làm khoa học cơ bản ở Nga lụn bại, đang buộc chúng ta phải trở lại vấn đề về vai trò của các nghiên cứu cơ bản và phương hướng đưa các kết quả nghiên cứu khoa học vào công nghiệp. Kinh nghiệm phát triển khoa học của thế giới chỉ ra rằng phần lớn các phát kiến và công nghệ mới quyết định tiến bộ kỹ thuật, đều là nhờ kết quả của những nghiên cứu cơ bản. Vì lợi ích thương mại của chúng không dễ gì thấy ngay được và có thể hiện thực hóa sau một thời gian khá dài, nên chỉ có nhà nước (chứ không phải khu vực tư nhân) mới đủ sức cấp kinh phí cho những nghiên cứu như vậy. Điều này được giải thích, nói riêng, bằng một thực tế đã rõ là phần lớn các bằng sáng chế ở Hoa Kỳ đều bắt nguồn từ các công trình thực hiện tại các trường đại học lớn và tại các phòng thí nghiệm của Chính phủ. Như vậy, việc nhà nước cấp kinh phí cho những nghiên cứu khoa học hiện nay là cơ sở để tăng trưởng kinh tế của các nước phát triển.

Chúng ta biết nhiều thí dụ về điều này. Ai cũng thừa nhận kết luận rằng việc trợ giúp mạnh mẽ của Liên bang cho các nghiên cứu khoa học và công nghệ mới bắt nguồn từ đó chính là nhân tố then chốt để tăng trưởng kinh tế của Hoa Kỳ trong thời kỳ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Sự phát triển kinh tế của các nước như Nhật Bản và Thụy Sĩ là những nước không có nguồn tài nguyên thiên nhiên gì đáng kể, nhưng có tiếng là Chính phủ hỗ trợ mạnh mẽ cho nghiên cứu khoa học, là bằng chứng xác nhận điều đó. Ngày này, ngay cả những quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên như các nước vùng Vịnh Persian, cũng đang cố gắng phát triển những công nghệ cao.

Cũng nên nhắc lại rằng trong những biện pháp ứng phó của Hoa Kỳ trước các hiểm họa và thách thức quốc tế bao giờ cũng phải kể đến việc đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong nước. Dưới đây xin dẫn ra một số sự kiện thế giới đáng kể nhất và những biện pháp tổ chức kéo theo trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học ở Hoa Kỳ:

Nội chiến ở Hoa Kỳ (1861 – 1865) – Viện Hàn lâm khoa học quốc gia (1863),

Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) – Hội đồng nghiên cứu quốc gia (1916),

Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 – 1945) – Cục Nghiên cứu khoa học và triển khai (1941),

Phóng vệ tinh đầu tiên của Liên Xô (1957) – Cục Hàng không vũ trụ và nghiên cứu khoảng không vũ trụ (1958),

“Chiến tranh Lạnh” (1946 – 1991) – Cục Nghiên cứu biển (1946), Quỹ khoa học quốc gia (1950), Cục Nghiên cứu quân đội (1951), Cục Nghiên cứu khoa học không quân (1952), Cục Kế hoạch triển vọng các công trình nghiên cứu khoa học quốc phòng (1958), Sáng kiến phòng thủ chiến lược (1983).

Hiện nay không một ai nghi ngờ gì là trong thế kỷ mới, khoa học và kỹ thuật sẽ hợp thành cơ sở thành công, bảo đảm sự tăng trưởng kinh tế bền vững và tiêu chuẩn đời sống cao của các nước phát triển. Bằng chứng xác nhận đầy thuyết phục về điều này là quyết định của Hạ nghị viện Quốc hội Hoa Kỳ về việc đổi mới văn kiện chủ yếu được soạn từ năm 1945, quyết định chính sách của Hoa Kỳ trong lĩnh vực khoa học. Văn kiện mới về chính sách khoa học của liên bang đã được chuẩn bị từ tháng 3/1997 và một bản báo cáo tương ứng đã được công bố hồi tháng 9/1998 dưới tiêu đề rất hàm súc “Mở ra tương lai của chúng ta” (Unlooking Our Future).

Bản báo cáo trình bày rõ những mục tiêu của chính sách khoa học liên bang: Hoa Kỳ cần duy trì và củng cố vị thế nổi bật của mình trong khoa học và công nghệ để có thể hiểu sâu hơn về Vũ trụ cùng những hợp phần của nó và cải thiện đời sống, sức khỏe và bảo đảm tự do cho mọi người. Đồng thời ở đây khẳng định một lần nữa tiền đề cơ bản của các chi phí Liên bang chi cho nghiên cứu cơ bản: những nghiên cứu này xét cho cùng sẽ dẫn tới những ngành sản xuất mới và cái lợi từ đó sẽ vượt gấp nhiều lần số chi phí cho nghiên cứu.

Kết luận cơ bản của báo cáo cũng được trình bày rõ: để duy trì sức mạnh của nền kinh tế quốc gia và khả năng cạnh tranh quốc tế, Quốc hội cần phải biến chế độ tài trợ cơ bản và ổn định cho các nghiên cứu cơ bản thành hướng ưu tiên tối cao. Hiện nay, đánh giá vai trò của khoa học cơ bản thể hiện trong báo cáo của Quốc hội Hoa Kỳ đã được dư luận thừa nhận. Đầu tư cho khoa học đang là một hướng ưu tiên quốc gia của nhiều nước.

Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu cơ bản có thể sẽ không như ý, nếu không có một cơ chế có hiệu quả để chuyển giao chúng cho nền công nghiệp. Hà tất phải chứng minh rằng việc chuyển giao kết quả nghiên cứu từ các cơ quan khoa học sang cho công nghiệp đang là (hoặc phải là) mối quan tâm của tất cả các bên tham gia quá trình này: giới nghiên cứu, các cơ quan khoa học, nền công nghiệp (các công ty), nhà nước. Thế nhưng ở tất cả các nước (trong đó kể cả những nước có nền kinh tế thị trường phát triển) hiện vẫn tồn tại vấn đề chuyển giao kết quả khoa học sang cho nền công nghiệp, hay, như người ta thường nói, vấn đề thương mại hóa sở hữu trí tuệ. Vấn đề này phát sinh khi có sự tương tác giữa hia trong nhiều quan hệ giữa các lĩnh vực hoạt động khác nhau của con người: giữa khoa học và công nghiệp.

Khoa học vốn rất năng động, luôn sinh ra nhiều ý tưởng, song phần lớn các công trình triển khai những ý tưởng đó đều ở trạng thái thai nghén (thường là ở cấp độ trình bày hiệu quả) và đòi hỏi phải được đầu tư. Nền công nghiệp vốn bảo thủ, vì việc sản xuất ra một sản phẩm mới thường đòi hỏi những vốn đầu tư đáng kể nên phải chắc rằng sản phẩm mới sẽ tìm thấy được nhu cầu trên thị trường.

Tôi không có ý miêu tả thật kỹ vấn đề thương mại hóa sở hữu trí tuệ mà chỉ nêu lên những lập luận của mình dựa trên trên kinh nghiệm cá nhân và qua việc tìm hiểu các tổ chức nước ngoài nghiên cứu về vấn đề này. Song trước hết tôi xin làm rõ một số thuật ngữ cần thiết:

+ Công nghệ (hiểu theo nghĩa rộng) – là bất kỳ sự đổi mới kỹ thuật, sáng chế phát minh nào cũng như các sáng tạo thông tin khác dưới các hình thức khác nhau, kể cả các chương trình máy tính. Chính đó là những cái cấu thành sở hữu trí tuệ.

+ Quyền sở hữu trí tuệ – là khả năng quản lý sự sở hữu về công nghệ và sử dụng công nghệ. Các quyền này được thể hiện dưới dạng bằng (chứng nhận) sáng chế, phát minh, bản quyền (quyền tác giả) các nhãn mác thương mại…

+ Bằng sáng chế – là quyền của người sáng chế (người sở hữu bằng sáng chế) được nhà nước cấp bằng bảo đảm không cho tất cả những người khác sản xuất, sử dụng và bán sáng chế trong phạm vi nước đó. Ở đây cũng nên nhấn mạnh đến những mối quan hệ cùng có lợi rất đặc biệt giữa người sáng chế và xã hội. Một mặt, xã hội có điều kiện để tiếp xúc thông tin và các chi tiết công nghệ của sáng chế để có thể đẩy nhanh quá trình phát triển nó về mặt kỹ thuật.

+ Chuyển nhượng bản quyền sáng chế – là chuyển quyền sở hữu trí tuệ. Người ta phân biệt việc chuyển các quyền đặc chuẩn khi tất cả các quyền sở hữu trí tuệ được cho phép với việc chuyển các quyền phi đặc chuẩn, cho phép sử dụng sở hữu trí tuệ đó trong phạm vi nhất định.

+ Royalty – là khoản thu nhập từ việc bán giấy phép sản xuất hoặc một tỷ lệ phần trăm giá trị nhất định của sản phẩm bán ra.

Ở các nước phát triển, những hình thức tổ chức thương mại hóa có hiệu quả về sở hữu trí tuệ cũng mới chỉ được đề ra tương đối gần đây. Chẳng hạn, việc đăng ký sáng chế và cấp giấy phép sáng chế trên quy mô rộng khắp được bắt đầu tại các trường đại học của Hoa Kỳ, sau kkhi thực hiện luật liên bang Bayh-Dole 91 – 517 (Bayh-Dole Act of 1980). Theo luật này nhà nước giao cho các trường đại học quyền đối với những sáng chế được hình thành trong quá trình thực hiện nghiên cứu do Chính phủ liên bang cung cấp kinh phí. Đồng thời, Chính phủ được hưởng giấy phép bản quyền phi đặc chuẩn miễn phí đối với công nghệ mới đó. Chính phủ cũng nắm quyền được can thiệp, nếu trường đại học không làm tròn những nghĩa vụ mà luật Bayh-Dole đã quy định.

Theo luật này, các trường đại học có nghĩa vụ:

+ làm thủ tục đăng ký xin cấp bằng sáng chế;

+ khi chuyển giao bản quyền sáng chế phải ưu tiên cho giới doanh nghiệp nhỏ;

+ chia lợi nhuận với những người sáng chế;

+ trong trường hợp chuyển giao bản quyền sáng chế đặc chuẩn ở Hoa Kỳ, người sở hữu bản quyền phải đồng ý tổ chức sản xuất trong nước Mỹ;

+ sau khi đã bù đủ chi phí, phần lãi dư ra từ việc bán bản quyền sáng chế sẽ dùng vào việc hỗ trợ cho nghiên cứu khoa học và giáo dục.

Sau khi thông qua luật Bayh-Dole, tính tích cực của trường đại học Hoa Kỳ trong việc chuyển giao bàn quyền sáng chế đã tăng lên mạnh mẽ. Tại trường Đại học Stanford, số lượng dịch vụ bản quyền sáng chế đã tăng 6 người năm 1980 lên 25 người năm 1998. Thu nhập từ việc bán bản quyền sáng chế đã tăng từ không đầy 1 triệu lên tới 60 triệu USD. Mức công bố các bằng sáng chế trong tất cả các trường đại học Hoa Kỳ đã tăng từ 300 trong năm 1980 lên 2500 trong năm 1997. Năm 1996, tất cả các trường đại học của Hoa Kỳ đã ký được 12.950 hợp đồng bán bản quyền, thu nhập có được từ việc bán bản quyền sáng chế là 579 triệu USD, đã tạo ra được 212.500 chỗ làm việc.

(còn tiếp) 

Người dịch: Mai Diên

Nguồn: TN 99 – 118

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s